Đa nguyên Việt Nam (?)

Qua nhiều năm, những người đấu tranh nhằm cải cách thế chế ở Việt Nam đã không ngừng đòi hỏi phải có một nước Việt Nam đa nguyên, trong khi những người bảo thủ tìm mọi cách chống lại, coi nó là âm mưu diễn biến hòa bình nhằm thay đổi “chế độ của chúng ta.” Tôi xin báo tin buồn cho cả hai bên: tất cả các bạn đều sai. Vì từ rất lâu rồi Việt Nam và cụ thể là đảng cầm quyền đã một đảng đa nguyên. Không phải chỉ có tôi khẳng định như thế mà nó là một thực tế đã được chứng minh qua rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, kể cả các công trình nghiên cứu ‘đỏ,’ nghiên cứu ‘vàng,’ và nghiên cứu của những các chuyên gia nước ngoài, từ Mỹ cho đến Hoa Lục.

Vậy, lời khẳng định cho rằng Đảng công sản Việt Nam là một đảng đa nguyên không phải là chuyện gây tranh cãi mà là một nhận xét rất khách quan. Phê bình và tự phê bình mãi đã không thay đổi được thực thế đó. Thích hay ghét “dân chủ tập trung” cũng vậy mà thôi. Qua trao đổi với một số nhân vật trong chính quyền Việt Nam, tôi biết là họ không thích lắm, mỗi khi tôi đề cập đến tính đa nguyên hay (bi quan hơn) sự chia rẽ trong giới chính trị cao cấp. Theo tôi, có gì là không thích ở đây? Vâng, tôi hiểu “biện pháp của Việt Nam” (tức là Việt Nam way) là sự “nhất trí ở cấp cao,” cho phép đưa ý đảng xuống lòng dân. Nhưng, trên thực tế, có ai ở Việt Nam mà không thấy – giống như ở tất cả các nước trên thế giới (thậm chí cả ở Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triêu tiên) – bao giờ cũng tồn tại những lợi ích khác nhau.

Vì thế, khác với phát biểu của Phạm Chí Dũng trong thời gian gần đây, tôi không thấy ở Việt Nam những nhóm lợi ích và nhóm bao thủ vì trên thực tế, xã hội nào cũng đều có những nhóm lợi ích cả. (Trừ một số ít trường hợp như chế độ của Hitler và Pol Pot, v.v. kể cả các chế độ của Stalin và Mao cũng đã có những nhóm lợi ích của họ, họ đã giết nhau vì những lý do khác nhau). Hay lấy một ví dụ khác. Trong một buổi nói chuyện, GS Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng: “Ở Việt Nam gần đây, có hai khuynh hướng, … khuynh hướng muốn thoát Trung, và khuynh hướng muốn hòa hiếu với Trung Quốc.” Đa nguyên rồi chứ còn gì nữa.

Trong thời điểm lịch sử, khi Việt Nam đang tiến hành một cuộc thảo luận trên quy mô quốc gia về hướng đi của đất nước… Vào thời điểm đang có sự phát triển lành mạnh của xã hội dân sự cả trong và ngoài bộ máy, …. Vào thời điểm, khi các vị trong Bộ Chính Trị, trong Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng và Quốc hội đang tìm con đường đi, tôi xin đề nghị thay vì phủ nhận việc Việt Nam có một nền chính trị đa nguyên thì hãy chấp nhận điều đó, coi nó một thế mạnh và đang phát triển, để ngày càng mạnh mẽ hơn, lấy nó làm điểm tựa để hướng đất nước tới một tương lai dân chủ, tự do. Được không? Nếu làm được như thế thì tất cả mọi người cùng thấy rằng Việt Nam thực sự đang thay đổi một cách trật tự, an toàn và văn minh.

JL

CẬP NHẬT: Cho đến một hôm sau, đa số người đọc không thích bài, phản đối, và không chấp nhận. Kể cả bảo đè nghị của tôi là nguy hiểm. Sau một đêm bất bình tôi thấy tội chính là viết nhanh, luộm thuộm về trí tuệ (tức ‘intellectually sloppy’) không đầu tư đủ nỗ lực để làm rỗ ý …. Nguyên ý là dù còn là nền chính trị một đảng/độc đảng/đọc đoán, và dù xã hội dân sự mà đang nổi lên còn liên tục bị hàm dọa (này là ‘kẻ cơ hội’ này là ‘bộ phận gây rối’), thì nhìn một cách tổng thể hơn, nền chính trị của Việt Nam có những yếu tố có tính ‘đa nguyên,’ trong hay ngoài ngoặc kép…. Tôi biết sự khác biệt giữa chính trị phe, phái và một dân chủ đa nguyên chứ… Phải cẩn thận hơn, rỗ hơn với cả ngôn ngữ lẫn ý tưởng…

Cảm ơn các bạn!

Share Button

Phỏng vấn với CNBC Asia về chuyến đị của Lề Hồng Anh

Sáng nay lên CNBC TV Asia nhằm mục đích sáng tỏ tình hình quan hệ Việt -Trung cho quốc tế. Thành công hay không chẳng biết và việc chỉ có mấy phút cũng không cho phép phân tích tình hình một cách toàn diện. Để xem clip bám vào đây. Xin cảm ơn bạn đã dịch nội dung (ơ dưới).

JL: Ngoài mặt thì chuyến đi của Lê Hồng Anh là để hàn gắn những đổ vỡ gây ra bởi những cuộc bạo loạn diễn ra hồi tháng 5. Giữa hai nước vẫn còn nhiều vấn đề lớn chưa được giải quyết. Tôi tin là hai bên sẽ tiếp tục đàm phán thêm nữa. Tình hình chưa rõ ràng lắm. Phía TQ dường như vẫn muốn thuyết phục hay tạo áp lực buộc VN không được đưa vấn đề cho trọng tài quốc tế phân xử.

Q: Các cuộc bạo loạn đó đã gây nhiều thiệt hại cho các cơ sở sản xuất nhưng TQ chỉ đòi bồi thường thiệt hại – vậy là nhẹ đối với vụ việc nghiêm trọng nhất từ trước tới nay. Ông nghĩ sao?

JL: Ông còn nhớ là ngoài cơ sở của TQ, các cơ sở của Đài Loan, Singapore và Hàn Quốc cũng bị hư hại. Cũng dễ hiểu là VN phải bồi thường để trấn an các nước rằng vẫn là một môi trường ổn định và thân thiện cho đầu tư quốc tế.

Q: Đúng thế, nhiều cơ sở không can dự đến cuộc tranh chấp cũng bị liên luỵ. Đó là chuyện khác thường, phải không?

JL: Thật là kỳ lạ – tình hình lúc đó khá mờ ám. Bạo loạn xẩy ra ở 3 tỉnh, một tỉnh còn có hàng trăm công nhân TQ làm việc mà không có giấy phép. Trong khi đó quan chức địa phương thì đuổi dân lấy đất cho các dự án của họ. Cho nên nguyên do đưa đến bạo loạn cũng khá phức tạp. Dù sao thì hiện nay ở VN đang diễn ra một cuộc tranh luận lớn về hướng đi cho VN đối với TQ. Nhiều người có lẽ không biết chính trị VN rất phức tạp. Không như TQ, VN không phải là nước chỉ có một ông vua. Chính trường VN là một cổ máy có nhiều bộ phận.

Q: Tôi nghĩ hiện nay TQ rất là bận tay – họ phải đàm phán với Hoa Kỳ về quan hệ giữa hai nước. Bắc Kinh muốn Hoa Kỳ đừng quấy rối ở Châu Á và có vẽ thích khiêu khích Washington… (nói lang bang về địa chính trị của Châu Á). Châu Á dường như không có một tiếng nói đoàn kết để chống lại TQ…

JL: Tình hình đang biến chuyển rất lạ lùng và rất nhanh, nhưng tôi cho rằng thái độ hung hăng của Bắc Kinh trên vùng biển Đông Nam Á đã châm ngòi cho một số diễn biến khá thú vị về việc thành lập liên minh – như nhiều cuộc gặp gỡ ngoại giao đã diễn ra giữa VN và Hoa Kỳ. Các nước như Nhật Bản, Singapore, Phillipnes và Úc. Tình hình biến chuyển thật nhanh chóng.

JL, Hồng Kông

Share Button

Vài suy nghĩ về báo chí Việt Nam

Một trong những phát triển khá hứa hẹn ở Việt Nam hiện này là sự nổi lên của nhiều nhà bình luận độc lập và cái gọi là “nhà báo độc lập” và “báo chí độc lập.” Dù có quan điểm nào về chính trị, việc đất nước đang phát triển một ‘phạm vi công’ (tức một không gian mà những ý kiến có thể được phô diễn một cách công khai — bằng tiếng Anh gọi là ‘public sphere’) là không thể bàn cãi rồi.

Nhìn động thái phức tạp của chính quyền đối với sự nổi lên của báo chí độc lập hàm ý lập trường của nhà nước đang diễn biến một, dù tính chất của diễn biến đó còn quá mơ hồ. Riêng tôi khuyên chính quyền Việt Nam để cùng với dân dần dần bội dưỡng không gian đó, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của một nền báo chí đa dạng hơn.Trong bối cảnh này, tôi có một vài đề nghị rất nhỏ đối với giới gọi là “nha báo độc lập” của Việt Nam.

Trước khi chuyển sang những đề nghị đó xin giải tích quyết định  viết một bài về chủ đề này xuất phát từ hai việc. Một là nội dung của một bài “Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng còn có độc lập?” do Nguyễn An Dân viết. Hai là những ý tưởng của tồi gần đây sau 2-3 năm quan sát sự phát triển của ‘ngành’ báo chí độc lập ở Việt Nam trong những hình thức của nó. Vì bài đó và những ý tưởng của tôi liên quan đến nhau. Đề nghị ngấn gọn là như sau:

Bình luận và phản biện xã hội là một chức năng cốt yếu của một nền báo chí. Song, những bài miêu tả và phân tích một cách khách quan và nêu rõ những quan điểm khác nhau – tức ‘news gathering and reporting’ không nên bị bỏ qua. Ai cũng thích đọc những bài nêu lên ý kiến. Nhưng, đề nghị các nhà báo Việt Nam độc lập cũng nên nỗ lực để phát triển những thế mạnh của họ đối với những chức năng khác của ngành báo chí. Trong đó có việc viết những ‘bài thời sự’ (news ariticles) bình thường, khách quan, và đáng tin cậy. Tôi biết rằng viết những bài báo ‘bình thường’ có lúc chán. Viết bình luận, chém gió sướng hơn. Song, một tờ báo đáng tin cậy (trên giấy hay mạng?) không thế thiếu những bài viết đó, và nhờ vậy Việt Nam dần dần mới có một nền báo chí thực sự độc lập.

Tôi xin nhấn mạnh, tôi rất ửng hộ sự đa dạng hóa của nền báo chí ở Việt Nam. Tôi cũng hiểu làm nhà báo ở Việt Nam một cách chuẩn và chuyên nghiệp, nhất là nhà báo độc lập, còn quá khổ, thậm chí đầy rủi ro. Với tư cách là bạn của Việt Nam tôi cũng đè nghị các bạn trong bộ mấy để thấy một cách mới sự giá trị của báo chí trong quá trình dân chủ hóa đất nước một cách trật tự, an toàn, văn minh. Bào chỉ không nên chỉ được xem là một công cụ, phải không? Việc có những bất đồng chính kiến được thảo luận một cách văn minh là chuyện bình thường ở các nước văn minh, phải không?

Dù chúng ta chưa biết về tương lai, chưa biết sẽ có nhà báo đọc lập nào sẽ được thả trong những tuần tới, sẽ có một nền bào chí như thế nào trong những năm tới, tôi xin chức mừng cả nước Việt Nam về sự phát triển và đa dạng hóa của ngành bào chí, cũng như khuyên khích cả người dân lẫn lãnh đạo chính trị nỗ lực để nuôi dưỡng bào chí trên đường thúc đầy dân chủ hóa của đất nước Việt Nam.

JL

Xin lỗi bài này đã có những sự thay đổi vì đã gặp một số khó khăn về tiếng Việt.

Share Button

Sao Mỹ lại chiếu phim đó?

fẻgChia sẻ với các bạn Việt Nam vài bình luận về những chuyện ở Ferguson, Mỹ.

Đối với Hoa Kỳ, từ lâu “phim dờ ấy” (tức là ‘this same old bad movie’) đang được chiếu, chiếu nữa, chiếu mãi. Tất nhiên không phải là bộ phim mà là một thực tế được tái lập và duy trì liên tục qua hàng loạt thập kỷ mà đến nay hệ thống chính trị bị tập đoàn tư sản mua rồi chưa hề thực sự quan tâm đến. Hiện tượng những người nghèo (đặc biệt là người da đen) bị công an bán, nình sâu vào, không phải là chuyện về công an hay thực thi pháp luật. Nó xuất phát từ những sự mất công bằng trong những thế chế xã hội, chính trị, kinh tế của đất nước Mỹ… Vậy không bất ngờ, những nhà báo của Trung Quốc hiện giờ đang rất đông ở bên Mỹ, quay phim, gửi về nhà, chiều cho dân Tàu biết là ở nước họ, không có vấn đề gì hết.

Tôi thấy xấu hổ đới với nước mình không? Không. Tôi thấy xấu hổ vì nước mình là nước giàu nhất thế giới mà có một xã hôi mà trong đó nhiều người còn nghèo, chẳng được sống trong những điều kiện tốt, không có những cơ hội hứa hẹn. Tôi thấy xấu hổ về những hình ảnh trển mà phản ánh những điều kiện ở xã hội Mỹ hậu 11 tháng 9. Một xã hội mà có vừng công an địa phương đã quân sự hóa (vì những chính sách chống khủng bố vì lợi nhuận) trong khi mức sống của dân trong những địa phương lại giảm. Thật chán!

Đối với chuyện Ferguson, đó không phải là thất bại của dân chủ, đó là thất bại của dân chủ kiểu Mỹ và là thất bại của những chính sách xã hội kinh tế của nhà nước Mỹ từ những năm 1980, hay lau hơn nữa. Xin lỗi vì thực sự không có thời giờ để đi sâu vào.

Vấn đề ở Mỹ hay ở Việt Nam hay bất cứ nước nào không phải là dân chủ. Vấn đề là những thế lực và thế chế mà muốn phá hoại dân chủ, mà không quan tâm, không bảo vệ, và không thúc đầy các quyền lợi của người dân. Nếu điểm yếu của Việt Nam là những thế chế dân chủ đã chưa được phát triển tốt, thì vấn đề của Mỹ là những thế chế của dân chủ đã teo lại nếu không muốn nói là cũng đã chưa phát triển tốt. Một nền chính trị kinh tế tốt là một nền chính trị kinh tế mà tạo ra những điều kiện cho mọi người để sống trong những điều kiện tốt, có đủ cơ hội kinh tế xã hội. Những nước má có sự thực hiện tốt nhất trong những khía cạnh này là những nước dân chủ xã hội. Xã hội mỹ hay chứ. Nhưng, còn quá nhiều thiếu sót. Thế thôi.

JL

Share Button

Ngăn chặn gì?

Hôm nay tôi đã hơi buồn khi đọc tiêu đề: Thủ tướng: Phải ngăn chặn việc hình thành các tổ chức phản động mà đã chạy trên nhiều tờ báo của Việt Nam. Tôi đọc thấy quá chán.

Trong những tháng từ đầu năm đã có những lúc Ngài Thủ tướng đã làm cho tôi cũng như nhiều người khác khá ấn tượng. Thậm chí nghĩ là Ông cũng có thể là người cải cách to lớn. Rất tiếc, vào hôm này chúng ta lại có lý do để lo láng về những ý định của Ông. Tôi không loại trừ khả năng tôi đang nhầm. Nếu thế, thì xin lỗi Ông.

Song, trong một lúc lịch sử mà Việt Nam rất gần đoàn kết và cũng rất cần sự ửng hộ của quốc tế tôi xin đề nghị tuyên bố một cách có tính hăm dọa rất có thể không có ích lắm.

Vậy, xin đề nghị (một cách tính bạn) nên ngăn chặn việc ngăn chặn hình thành các tổ chức muốn Việt Nam có một tương lai hứa hẹn. OK, chẳng cần một người nước ngoài để khẳng định Việt Nam ‘phải làm gì.’ Song, khi Ngài TT tuyên bố ‘phải ngăn chặn phản động’ tôi rất lo về ý nghĩa của những gì ông đã nói về dân chủ.

Thay vi tuyên bố như thế, hãy có đủ dũng cảm và tầm nhìn để cho phép những người ôn hòa, yêu nước gốp phần vào sự phát triển của đất nước theo lương tâm của họ. Được không?

CẬP NHẬT: Theo một bạn online, bài gốc của TTXVN mà đã được một số tơ báo điện tử đăng lại đã không phẩn ánh đúng tinh thần của Thủ tướng. http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Thong-cao-bao-chi-ve-hoat-dong-cua-Thu-tuong-ngay-168/206378.vgp. Nếu đúng thì một lần nữa xin lỗi Ông (dù còn vài vấn đề ‘ta’ chưa đồng ý.)

Sau cùng, còn khó đánh giá ý nghĩa của ‘vụ’ này. Về cơ bản nên bảo vệ và thúc đẩy quyền của dân. Ủng hộ trật tự xã hội, không ủng hộ việc lấy cớ nào để chống lại cải cách.

JL

Share Button

Việt Nam Hậu 981

Có những thời điểm mà lịch sử chạy nhanh hơn bình thường. Chúng ta đang sống trong một thời điểm như thế. Trong thời gian từ đầu tháng 5 đến nay, Việt Nam đã có những thay đổi quan trọng trong nền chính trị của đất nước. Tôi thậm chí dám khẳng định rằng có khả năng Việt Nam đã bước vào giai đoạn chính trị có tính quyết định nhất kể từ năm 1975. Tất nhiên những biến chuyển tôi đang đề cập liên quan đến những hành động phi lí của Bắc Kinh trên biển và, cụ thể hơn, những tác động của nó đối với nền chính trị của Việt Nam, gồm cả chính trị nội bộ của đảng cầm quyền và xã hội Việt Nam.

Phải cười một chút khi viết những từ “tôi dám khẳng định có khả năng.” Viết thế để vừa nêu một cách mỉa mai những khó khăn mà chúng ta thường gặp trong việc phân tích chính trị ở Việt Nam và vừa nêu tình trạng đầy cơ hội nhưng không có gì chắc chắn của tình trạng đất nước đang đối phó hiện nay.

Đánh giá tác động của những sự kiện xoay quanh “vụ 981” và những kết quả của nó gặp hai trở ngại lớn, làm cho chúng ta khó có thể đánh giá tầm quan trọng hay ý nghĩa lịch sử của giải đoạn này. Lý do thứ nhất, chúng ta chẳng có khả năng để dự báo tương lai, như nhà bình luận Cao Huy Thuần đã tìm hiểu trong một bài đáng độc gần đây. Tình trạng còn biến chuyển nhanh và phức tạp. Tình trạng có quá nhiều “biến số,” gồm cả động thái của Bắc Kinh, những phát triển trong quan hệ Việt-Mỹ, Việt-Nhật, v.v., những biến chuyển và sự kiện trên biển, và những chuyển động chính trị ở Việt Nam cả trong lẫn ngoài bộ máy.

Lý do thứ hai chính là sự thiếu minh bạch (nếu không muốn nói là tính mờ đục) của nền chính trị cấp cao Việt Nam mà, đến nay, làm cho ai – trừ khoảng 0,00001 % người Việt Nam (cũng như tôi) – rất khó phân tích rõ tình trạng. Kể cả những nhà phân tích giỏi nhất vẫn phải dựa vào những suy đoán và những từ như “có thể”, “rất có thể”, “có khả năng”, “có thể tưởng tượng”, vân vân… Đối với giới nghiên cứu hay bình luận về chính trị ở Việt Nam, chẳng có ai tránh khỏi được trở ngại này.

Vậy, bất chấp những hạn chế trên, suy ngẫm về những biến chuyển, những thay đổi, và những gì mà chúng ta chưa biết được về Việt Nam hậu 981 vẫn có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những khả năng, cơ hội, và rủi ro đất nước đang đối diện. Cũng có thể góp phần một chút đến những thảo luân đang tiếp diễn ở Việt Nam. Ở đây, tôi sẽ đề cập một cách ngắn gọn đến vài lĩnh vực then chốt. Cuối cùng, tôi sẽ đặt ra một số câu hỏi mà “cũng có thể” (hihihi!) mang tính quyết định cho phương hướng của đất nước.

Chính trị nội bộ cấp cao

Hiện này người dân Việt Nam các cấp và mọi nơi đang rất muốn hiểu rõ về những quan điểm và những quyết định của 16 người có quyền nhất, tức là Bộ Chính Trị ĐCS Việt Nam. Muốn biết họ đã làm gì hay sẽ làm trong tương lai gần. Về việc này đã có nhiều bài phân tích các loại, từ những bài báo và blog của những nhà Bình Luận Việt Nam từ những bài của giới “học giả” và “chuyên gia” về Việt Nam. Chúng ta có thể kết luận gì?

Trên cơ sở những gì được biết, nghe, và suy đoán, tôi thấy Việt Nam hiện nay không chỉ là “sẵn sàng” mà là đang làm những bước đị có tính quyết định để đối phó với tình hình mới. Tôi suy đoán BTC đã hiện này còn sẵn sàng để kiện Bắc Kinh nếu không có một thay đổi lớn trong động thái của nó. Và tôi biết BTC đang nỗ lực để nâng cấp mạnh mẽ những mối quan hệ chiến lược mới với hai nước chủ chốt là Mỹ và Nhật. Tất nhiên còn qua sớm để biết những việc trên sẽ có nghĩa gì. Dù vậy, tôi cũng như nhiều người khác tin rằng đã và đang có một sự thay đổi rõ nét.

Về khả năng ‘giới bảo thủ’ chưa có muốn hay thay đổi hay chưa có đủ dũng cảm để thay đổi tôi cũng có vài suy nghĩ. Cơ bản nhất là chủ quyển của đất nước đang bị thắc thức trực tiếp. Thứ hai Việt Nam sẽ có nhiều lợi về nhiều mặt nếu có những thay đổi thế chế. Khác so với trước, gần như là không còn khả thi để giữ lập trường 4-16 một cách công khai. Người Việt Nam ở khắp nơi đang rất bức xúc. Họ muốn một quan hệ mới với Trung Quốc. Họ muốn minh bạch ngay lập tức về mọi việc từ 1990 đến nay.

Ngành và hành động ngoại giao

Lĩnh vực ngoại giao của Việt Nam đang có những thay đổi quan trọng. Ngoài hàng loạt nỗ lực để bàn với Bắc Kinh, đã có những lúc làm cho chúng ta thấy Việt Nam đang thay đổi. Thích hay không thích Nguyễn Tân Dũng, bài của Ông ở Manila có một tình thần mới. Thích hay không thích, rõ ràng Việt Nam đã và đang nâng cấp quan hệ với hai ba nước trong và ngoài khu vực: Philippines, Nhật, và “đế quốc” Mỹ.

Trong những tháng 5, 6, 7 có nhiều người nghi ngờ về sự chậm phát triển của mối quan hệ Việt-Mỹ. Còn ai vẫn nghĩ thế? Những suy đoán mãi về Việc Phạm Bình Minh đã hoãn lại chuyến đi, trong khi đó Ông Phạm Quang Nghị lại sang Mỹ có vể là không còn quan trọng lắm. Quan trọng là những thảo luận giữa ĐCSVN và Hoa Kỳ mạ đang xảy ra ngay vào những ngày nay là những thảo luận hứa hẹn nhất trong lịch sử của hai nhà nước.

Chúng ta có ly do để hy vọng sự phát triển của những mối quan hệ song phương sẽ tạo ra những cơ hội tốt cho Việt Nam để đề cập và giải quyết những vấn đề về thể chế mà đến nay vẫn cứ là rào cản ngăn chận con đường của Việt Nam tiến tới một vị trí mạnh hơn. Những thảo luận giữa Việt Nam và Mỹ, Việt Nam và Nhật, v.v… không phải là chỉ “có khả năng” để mang lại thay đổi, nó đang tác động sâu sắc đến toàn khu vực.

Về mặt quân sự

Chuyến đi sang Việt Nam của Tướng George Martin Đempsey, sĩ quan cấp cao nhất trong cả lực lượng vũ khí Mỹ và là Chủ tịch chỉ huy Tổng tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ là dấu hiệu mới nhất là những quan hệ quân sự giữa hai nước chứng tỏ đang có những biển đổi nhanh và sâu. Đối với động thái của phía Việt Nam, còn chưa rõ. Những mặt bề ngoài chưa chắc có ích gì trong việc nắm hiểu tình hình. Lấy ví dụ, sự miễn cưỡng của những đại tướng Việt Nam để nói mạnh hay nhảy một cách công khai vào một trận đương đầu với Bắc Kinh chưa chắc là khôn ngoan. Đồng ý, riêng về mặt quan hệ quốc tế Thượng Tướng Nguyễn Chị Vịnh là chuẩn hơn.

Trong những tháng tới, chúng ta sẽ thấy Mỹ xóa một số ràng buộc trong cấm vận vũ khí đối với Việt Nam (đọc bài tiếng Anh ở đây). Thực ra, việc toàn khu vực đang rơi vào một quá trình quân sự hóa là rất đáng buồn về nhiều mặt. Ít nhất nó phản ánh sự thực là niềm tin trong khư vực đã mất đi cực nhanh và hàm ý những số tiền khổng lổ sẽ bị trệch đi từ những mục đích phục vụ dân sự. Song, làm gì khi nước láng giềng có những động thái thực sự táo bạo bằng vũ lực như hiện nay?

Kinh tế

Trong lĩnh vực kinh tế, chúng ta thấy những nguy cơ và cơ hội rõ hơn. Có bạn nhận định, những hành vi và thái độ của Bắc Kinh đã bắt buộc giới lãnh đạo Việt Nam xem xét phương hướng lâu dài của nền kinh tế. Trong những tháng qua cho đến này, những nhà phân tích nhà kinh tế của Việt Nam (trong và ngoài nước) đang tìm hiểu những vấn đề này qua nhiều mặt. Cho đến nay, quan hệ kinh tế giữa hai nước đã mang lại cả những nguồn lợi quan trọng lẫn những chuyện không hay. Bên cạnh những nỗ lực để không cho phép những căng thẳng trên biển tắc động xấu đến quan hệ kinh tề, cần có và đang có những phương án cặn kẽ khác nhau để kịp đáp ứng cho mọi kịch bản.

Ở đây xin chia sẻ ba quá trình quan trọng mà đang tiếp diễn. Một, trong bối cảnh hiện nay, giới lãnh đạo Nhật Bản đang xem xét lại chiến lược kinh tế khu vực về mặt lâu dài. Mất an ninh, mất tự do đi lại trên những biển Đông Á và Đông Nam Á là một đe dọa cực lớn đối với cả nước Nhật, Hàn Quốc, và Philippines và quá đó, và là một sự đe dọa mà Mỹ sẽ không thể nào bỏ qua. Đã đến lúc phải có những cải cách kinh tế thực tế. Cứ tiếp tục nói “đổi mới” là không đủ vào thời điểm lịch sử này.

 Xã hội dân sự và “Phạm vi công”

Một nhà nước dân chủ và văn minh là một nhà nước là hết sức nghiêm túc trong việc bảo vệ và thúc đẩy những quyền con người. Hiện nay là lúc đất nước Việt Nam sẽ phải bắt đầu phát triển một nhà nước như thế. Khác so với trước, có những khuyến khích mạnh để tập trung vào việc ấy. Quan trọng ở đây không chỉ là “chấp nhận” xã hội dân sự mà là bảo vệ và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nó, làm cho nó phát triển một cách đa dạng, phong phú, thành một sức mạnh của đất nước.

Nói thế có quá lạc quan? Cũng có thể và cũng có thể không. Những thái độ và hành động đàn áp còn chưa được xóa. Những tù nhân lương tâm còn chưa được thả. Mặt khác, trong những tháng vừa rồi sự phát triển của cái gọi là “phạm vi công” (public sphere) đã có những dấu hiệu hứa hẹn, từ những thư ngỏ của các Đảng viên kỳ cựu cho đến sự thành lập của Thời Báo Việt Nam. Trong những tuần tới chúng ta có thể chờ đợi xem những ai được thả nữa. Nếu không có ai thì …. thôi… lại phải… chờ xem.

Trên đường dân chủ hóa, trật tự xã hội là một yếu tố quan trọng. Trong một xã hội văn minh, một người như Trần Nhật Quang hay Đỗ Thị Minh Hạnh đều có quyền để bày tỏ quan điểm của họ một cách ổn hòa và cũng không có quyền để lạm dung quyền của bất cứ ai cả. Hành vi đàn áp là hành vi phong kiến và lỗi thời cần phải xoá bỏ. Hãy thay đổi một cách làm cho thế giới xem Việt Nam là một nước đang thay đổi, một nước nên thông cảm và ủng hộ.

Liệu có cách nào cho những thành viên của xã hội dân sự ở Việt Nam được tuyên bố một cách công khai những cam kết của họ để cho chính quyền biết, dù có những bất đồng cần phải bàn thảo, cùng quyết tâm giữa trật tự và tuyết đối bác bỏ mọi hành vi bạo động. Liệu có cách nào để Nhà nước tuyên bố sẽ có một cuộc đối mới thực sự trong việc bảo vệ và thúc đầy quyền con người? Như chính N. Mandela đã nói: Mọi sự có vẻ như bất khả cho đến khi nó xảy ra.

Kết luận

Trong những tháng qua đã có nhiều người ở khắp nơi, từ mọi thành phần nói hay cảm thấy xã hội của đất nước ‘phải thay đổi.’ Thực ra, Việt Nam hiện này chắc chắn là đang thay đổi; thay đổi để thích nghi với một môi trường chiến lược mới.

Đáng tiếc, cho đến nay, chúng ta còn quá hạn chế trong việc hiểu rõ về những thảo luận đang tiếp diễn ở những cấp cao nhất của nền chính trị đất nước. Trong khi đó, còn quá sớm để đánh giá tầm quan trọng của những thay đổi mà đã, đang, và sẽ tiếp diễn. Song, Việt Nam của hôm này là rất khác so với Việt Nam của đầu tháng 5. Tôi thậm chí dám khẳng định vào thời điểm lịch sử đặc biệt này, Việt Nam có những cơ hội tốt để xoay trục tới một tương lai thực sự độc lập, dân chủ, và tự do.

JL Hồng Kông

Share Button

Rủi ro khi bàn quan hệ Việt – Trung

Gần đây, có bạn giới thiệu một bài viết mới của Tiến sỹ Zachary Abuza có tựa đề “Việt Nam oằn dưới áp lực của Trung Quốc.” Bài của TS Abuza đưa ra những khẳng định rất lớn theo đúng tinh thần của tựa đề đó dựa vào một phân tích có vẻ có bằng chứng tin cậy.

Về nguyên tắc, tôi luôn luôn cố gắng coi trọng bất cứ phân tích nào có nội dung đáng để suy nghĩ. Tuy nhiên, cũng có khi tính chất suy đoán, thiếu cơ sở, giật gân của một bài lên mức quá đáng, thậm chí đến mức làm cho chúng ta giật mình và lo về ý định, bản chất của tác giả. Rất tiếc tôi thấy bài này là một trường hợp như vậy.

Dưới đây, tôi sẽ giải tích tại sao tôi thấy bài của Abuza, dù ban đầu là hấp dẫn về cách viết, cuối cùng là một bài thiếu trách nghiệm, thiếu chuyên nghiệp, không giúp người đọc hiểu tình trạng thực tế của Việt Nam và vì thế làm hại đối với cộng đồng toàn cầu.

Những yếu tố trong bài của TS Abuza mà ban đầu làm cho nó đáng đọc là giới thiệu một số nhận xét vừa phải, một số thông tin được tin trước khi giới thiệu những khẳng định choáng ngợp và những chi tiết viết một cách có vẻ là có thật. Nhưng, càng đọc càng thấy bài có nhiều vấn đề và đọc xong có nhiều cảm giác không hay và không vui.

Nói một cách ngắn gọn, bài viết nhầm lẫn những mặt bề ngoài với thực chất, nhầm lẫn thực tế và tiểu thuyết, và vẽ ra một bức tranh quá đen trắng trong khi thực tế tình hình hiện nay phức tạp hơn nhiều và rất có thể trái ngựơc với những câu chuyện tưởng tượng của tác giả. Nói thế, không có nghĩa là bài không có giá trị. Giá trị của nó là nêu những nguy cơ trong việc phân tích chính trị.

Nhầm lẫn bề ngoài với thực tế

Trước hết, hãy bắt đầu với bối cảnh chiến lược chung mà TS Abuza vẽ ra trong phần đầu bài. Dù có những yếu tố đáng đồng ý, tôi chưa chấp nhận một số nét phân tích của ông. Những sự bất đồng ở đây có lẽ không lớn lắm.

Chẳng hạn, khẳng định của TS Abuza rằng Hà Nội đã gần như “bất lực” trong việc chống lại động thái khiêu khích của Bắc Kinh tôi thấy là quá mạnh. Dù đồng ý Việt Nam đã chưa đủ hiệu quả trong việc đối phó với Bắc Kinh (và thậm chí chấp nhận nó một phần vì những bất đồng nội bộ). Nhận xét rằng những hành động của Trung Quốc chưa đến mức khiến ASEAN đoàn kết là một nhận xét có ít giá trị, vì chúng ta đều biết ASEAN sẽ chẳng bao giờ chống lại Trung Quốc một cách thống nhất.

Lập trường Bắc Kinh “có lẽ” đã “thành công” trong việc thuyết phục những nước có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông rằng Mỹ là đối tác không tin cậy rõ ràng là không có giá trị và, dù sao, là không có sức thuyết phục. (Philippines không tin Mỹ sao?) Dù không ít người thấy phản ứng của Mỹ về tranh chấp Biển Đông là quá nhẹ và không kịp thời, riêng tôi lại cho rằng cách tiếp cận của Mỹ đến nay là khá tốt, dù có một số điểm yếu.

Cuối cùng, nếu ông Abuza cho rằng “thiệt hại lớn nhất đối với Hà Nội là hành động của Trung Quốc đã phơi bày bất đồng lớn trong giới chóp bu Đảng Cộng Sản”, tôi lại thấy thiệt hại chính là nó buộc Bộ Chính trị phải tìm cách đối phó những bất đồng đó, thay đổi hay điều chỉnh phương hướng chiến lược của đất nước về nhiều mặt. Làm thế trong một bối cảnh mà có nhièu bất đồng là cực kỳ khó khăn. Nói cách khác, thiệt hại lớn nhất đối với Hà Nội, không phải là “phơi bày bất đồng lớn” mà là nâng cao áp lực để làm những bước phải làm mà rất khó làm đối với phương hướng của đất nước.

Về cuộc họp của Bộ Chính trị

Nếu những vấn đề nói trên được xem không lớn lắm thì những nội dung thú vị nhất và có vấn đền nhất là khi TS Abuza đề cập những quá trình nội bộ của Bộ Chính trị, đặc biệt những gì “đã xảy ra” sau khi phái viên Dương Khiết Trì của Trung Quốc đã về nước.

Tôi phải khẳng định ngay tôi không có tiếp cận được những thông tin về nội bộ của Bộ Chính Trị (dù có lần tôi đã xin một viên chức an ninh tạo điều kiện cho tôi quan sát những gặp gỡ của Bộ để tránh việc có những hiểu lầm về chính trị ở Việt Nam). Trong những đoạn này, TS Abuza đã miêu tả khá chi tiết về lập luận của hai phái. Một, theo ông, là gồm các ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng đã có quan điểm phải kiện Bắc Kinh, gần Mỹ, Nhật hơn, v.v. Trong khi phái kia có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và những người khác.

Tôi không rõ ai đưa thông tin cho Abuza và chẳng biết những khẳng định chi tiết của tiến sỹ có cơ sở nào. Nhưng về cơ bản, tôi không tin những cuộc họp này (tức ngay sau khi phái viên Trung Quốc rời Hà Nội) đã có tính quyết định trong hồ sơ Biển Đông. Cụ thể hơn, theo tôi được hiểu, đã có những cuộc họp trong thời gian đó, và đã có những kết quả khác hẳn so với khẳng định của Abuza. Hơn nữa, theo tôi hiểu (và tôi sẵn sàng thừa nhận tôi có thể sai), Bộ Chính trị vẫn chưa bàn toàn diện và chưa có quyết định rõ nét nào. Vì sai ở nhiều chỗ, vì chưa nắm bắt tình hình, quan điểm của tiến sỹ không thể tin.

Thực vậy, càng đọc những đoạn này càng cảm thấy gần đây (không biết bao lâu), tiến sỹ đã nói chuyện với ai đó và đã phát triển một sự hiểu biết mơ hồ về tình hình ngay sau Dương Khiết Trì của Trung Quốc về nước. Vào đầu tháng Sáu, theo tôi biết, chẳng có một quyết định nào, cũng như chẳng có một bên thắng cuộc và bên thua cuộc trong Bộ Chính trị. Khi TS Abuza viết rằng phái không chống lại Trung Quốc “có vẻ lý luận”, tôi thấy phân tích của TS Abuza không dựa vào bằng chứng cụ thể nào mà chỉ dựa vào tin đồn, thậm chí những tin đồn lỗi thời.

Viết cho rõ hơn, tôi không chấp nhận lý lẽ rằng phái bảo thủ đã bác bỏ đề nghị kiện Trung Quốc. Hơn nữa, khi TS Abuza xác định những ai đã ủng hộ phái này (từ Tô Huy Rứa, Lê Hồng Anh, v.v.), tôi đã rất lo lắng. Có lẽ kiểu “phân tích” này sẽ hấp dẫn với một số người nhưng tôi thì chưa tin. Tôi biết một người biết nhiều hơn mình (và chắc chắn biết hơn TS Abuza) lại có danh sách khác. Tôi cũng không thấy “phái muốn kiện” đang bị xem như những người ngây thơ về phản ứng của Trung Quốc.

Khác với Abuza, chúng ta chưa có bằng chứng rằng Bộ Chính trị đã thông qua một quyết định nào để giảm căng thẳng, hoặc, cụ thể hơn, đã không có một quyết định dài hạn nào. (Liệu đã có một thỏa hiệp bí mật giữa Hà Nội và Bắc Kinh về việc rút giàn khoan Hải dương 981 thì suy đoán mãi mà vẫn không thể biết).

Còn quá sớm

Nói chung, chuyện tranh chấp ở Biển Đông là một vấn đề cực lớn và còn quá sớm để khẳng định những tranh chấp sẽ phát triển ra sao. Có quá nhiều tác nhân cùng chuyển động một lúc.

Về việc Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đã không đi Washington mà chỉ có ông Phạm Quang Nghị đi, tôi thấy là đáng tiếc và thực sự phản ánh những đặc trưng kỳ lạ của nền chính trị Việt Nam. Song, tôi không nghĩ rằng chúng ta đã biết nhiều về nội dung sâu sắc của quan hệ Việt – Mỹ đến nay.

Đương nhiên chính phủ Mỹ rất (nếu không muốn nói là quá) cẩn thận trong hồ sơ Trung Quốc. Việc có những gặp gỡ “lặng lẽ” chưa chắc có nghĩa là những gặp gỡ này là chưa quan trọng. Việc có một phái viên tổng thống Mỹ sang Hà Nội, dù chưa phải là chuyến thăm ồn ào, vẫn cho thấy có một trao đổi ở cấp cao nhất giữa hai “chế độ.”

Về phần kết luận, khẳng định của TS Abuza rằng “đại đa số trong Bộ Chính trị không sẵn sàng chống lại Trung Quốc” cũng khó chấp nhận. Ông Abuza nêu bốn lý do như (1) những cái giá kinh tế phải trả là quá cao; (2) giả định Việt Nam sẽ thua trong mọi xung đột trên biển; (3) ai đó hy vọng là nếu Việt Nam hy sinh Hoàng Sa, thì Trung Quốc sẽ sẵn sàng hơn đàm phán về Trường Sa; và (4) sự xem trọng quan hệ giữa hai đảng trong mắt những nhân vật như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Riêng đối với khẳng định đáng lưu ý của Abuza rằng Việt Nam đã có một quyết định để giảm căng thẳng và “đại đa số người Việt Nam có thể chưa biết về quyết định” đó, tôi phản ứng như sau. Dù tôi không phủ nhận những căng thẳng đã giảm, chúng ta chẳng có cơ sở để khẳng định đã có một quyết định như TS Abuza đã hàm ý. Tôi không cho rằng đã có kết cục nào rõ ràng.

Đối với Hiệp định Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP), dù tôi ủng hộ cải cách kinh tế, tôi cũng khuyên Việt Nam phải cẩn thận với TPP. Quan trọng hơn tôi không tin TPP là phương cách duy nhất mà Việt Nam có thể dùng để phát triển những quan hệ toàn diện với Mỹ.

Cuối cùng, tôi không đồng ý với ý kiến nói những hội nghị trung ương sắp tới sẽ không thể ra những quyết định lớn vì, như một trong những người phát ngôn ‘hay nhất, hiệu quả nhất’ của Việt Nam, Tướng Nguyễn Chí Vịnh đã nói, nhiều cái phụ thuộc vào động thái của Bắc Kinh.

Kết luận

Nói chung, tôi thấy bài của Abuza là đáng đọc. Nhưng tính đáng đọc này không phải là vì bài viết này hay. Đáng đọc vì nó tái nhắc nhở chúng ta về những rủi ro trong việc phân tích chính trị.

Nhìn một cách tổng thể, tôi rất hồ nghi về phân tích trong bài trong khi cách viết (đầy những suy đoán quá đáng cho đến những thông tin sai lệch) là rất đáng tiếc. Còn quá sớm và viết một bài mà thiếu cơ sở như vậy là chẳng có ích trong việc tìm hiểu tình trạng thực tế.

Đáng tiếc nhất là tôi đã mất cả một buổi sáng để đề cập bài này trong khi tôi có những công việc quan trọng hơn nhiều, như viết bài về hệ thống giáo dục, y tế của Việt Nam và đi ăn trưa! Và mất công ‘đánh’ một người Mỹ về chuyện Việt Nam! ;)

Bài này vốn được đăng trên BBC tại đây.

Share Button

Những bước phải làm và lời khuyên cho Ông Tập

Bài này được đăng trên Báo Nhất Hoa Nam, số ngày 9 tháng 7, 2014 tiêu đề, Hanoi must meet the challenge of standing up to Beijing, theo link đây.

Hai tháng đã qua kể từ khi Bắc Kinh tăng cường độ nỗ lực thực thi những đòi hỏi bất chính đáng trên những khu vực rộng lớn của vùng biển Đông Nam Á. Kèm theo việc sắp đặt giàn khoan khổng lồ trong những vùng biển tranh chấp vi phạm rõ những chuẩn mực quốc tế, đã có nhũng hành động ngoại giao cưỡng bức, tuyên truyền nguỵ tạo ồn ào, cũng như những đe dọa và sử dụng bạo lực, chưa thấy điểm dừng. Thế giới đã thực sự có ấn tượng vì sự hung hăng và ngoan cố của Bắc Kinh.

Cho tới gần đây, hai quốc gia Đông Nam Á đang bị đe dọa nhất bởi những đòi hỏi chủ quyền quá mức của Bắc Kinh — Philippines và Việt Nam — đã theo những con đường khác nhau trong cách đối phó của họ với Bắc Kinh. Nay, trong lúc chủ quyền của Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng, Hà Nội ngày càng có khả năng cùng với Manila thách thức tính hợp pháp của những hành động và yêu sách của Bắc Kinh. Dù đối đầu với Bắc Kinh chắc chắn có những rủi ro của nó, nhưng đó là phản ứng hợp lý và cần thiết và, ít nhất, sẽ góp phần nêu rõ trong bình diện quốc tế tính bất chính đáng của những động thái của Bắc Kinh.

Đối với Việt Nam, những thách thức trong việc chống lại Bắc Kinh là đặc biệt ghê gớm. Cùng với quá trình quân sự hóa, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và vĩnh viễn là láng giềng. Vì thế đương nhiên Hà Nội mong muốn duy trì mối quan hệ tốt hay tốt tối thiểu với Bắc Kinh. Thực vậy, những cuộc bạo loạn đầu tháng Năm là rất khác thường; tận đến này vẫn chưa xác định được những nguyên nhân từ đâu.

Song, hành động của Bắc Kinh đã làm cho việc giữ những quan hệ thông thường trở nên bất khả thi, đẩy Việt Nam vào một cuộc tranh luận lớn về phương hướng và triển vọng chiến lược của đất nước.

Sau hai tháng phân hóa nội bội và đưa ra những thông điệp lẫn lộn, lãnh đạo Việt Nam giờ đây đã tỏ ra đoàn kết và cảnh báo rằng, trong khi Việt Nam kiên quyết theo đuổi hòa bình, người Việt Nam sẽ phải chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống xấu nhất.

Nhưng Việt Nam có thể theo đuổi những bước cụ thể nào? Nhà phân tích Vũ Quang Việt và tôi đã gợi ý như sau: Đầu tiên, Hà Nội nên tìm kiếm một phán quyết từ một trọng tài phân xử theo Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển thiết lập rằng không có bất cứ điều khoản tự nhiên nào trong tranh chấp lại bao gồm cả quyền sử dụng trên những khu vực đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa. Điều này có nghĩa là thậm chí trên những hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa hiện dưới quyền kiểm soát của Bắc Kinh cũng chỉ bảo gồm khu vực lãnh hải trong vòng 12 hải lý tính từ đường bờ biển.

Thứ hai, trong khi bắt tay vào sự kiện tụng của mình, Việt Nam nên tham gia vào kiện của Manila để chống lại Bắc Kinh, thách thức tính hợp pháp của đường ranh giới lãnh thổ chín đoạn vươn tới hầu hết vùng biển Đông Nam Á của Trung Quốc và tuyên bố của Bắc Kinh rằng một số nơi trên quần đảo Trường Sa là con người có thể ở lại được (habitable); Bắc Kinh hiện đang cố gắng thay đổi hiện thực này thông qua việc xây dựng những hòn đảo nhân tạo.

Thứ ba, Hà Nội nên ưu tiên giải quyết sớm những tranh chấp nổi bật với Philippines, Malaysia và Đài Loan, sử dụng ASEAN khi thích hợp và phát triển hơn nữa những quan hệ đối tác chiến lược đang nổi lên.

Tuy nhiên, những bước tiến hành theo định hướng này còn chưa đủ để đảm bảo một tương lai độc lập và thịnh vượng cho Việt Nam. Đó là lý do mà ngày càng nhiều người Việt Nam tin rằng cần phải có những hành động táo bạo hơn: rằng để tiến bộ hơn nữa, Việt Nam cần phải dũng cảm cải cách những thể chế cơ bản của đất nước. Họ cho rằng, chỉ với những cải cách như vậy, Việt Nam mới đạt được những mức hiệu suất kinh tế, đoàn kết dân tộc và hỗ trợ quốc tế cần thiết để đáp ứng được những thách thức của thời đại.

Về lâu dài, thách thức đối với Việt Nam và toàn thể khu vực là phải đảm bảo một khuôn khổ an ninh trong khu vực được thiết lập trên những chuẩn mực ràng buộc lẫn nhau và dựa trên những nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng và hợp tác. Đương nhiên, chúng ta cần hy vọng rằng Bắc Kinh sẽ áp dụng một cách tiếp cận mang tính xây dựng hơn. Thiếu những thay đổi đó, thì luận điệu “an ninh châu Á tốt nhất nên để cho người châu Á” là một lời lừa đảo mà thôi.

Trong phát biểu gần đây, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng tự nhận thấy rằng “quan niệm (một nước) có thể thống trị những quan hệ quốc tế đã thuộc về một kỷ nguyên khác” và rằng “những nỗ lực như thế tất sẽ thất bại.” Liệu ông Tập dám theo lời khuyên cho chính mình?

Jonathan D. London là giáo sư Khoa Nghiên cứu Quốc tế và châu Á, là thành viên chủ chốt của Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á của trường Đại học Thành thị Hồng Kông và tác giả cuốn Chính trị Việt Nam đương đại: Đảng, Nhà Nước và các Quan hệ quyền lực, nhà xuất bản Palgrave-MacMillan, 2014.

Share Button

Đi biểu tình phải có thông điệp rõ chứ

   

Cho đến nay tôi có nhiều bạn Việt Nam từ mọi phía và mọi quan điểm chính trị. Và ở đây tôi hoàn toàn không có ý định đi sâu vào nội dung của những sự bất đồng chính trị trong cộng đồng Việt Nam toàn cầu, kể ca trong và ngoài nước.

Chỉ muốn chia sẻ ý một nhận xét mà thôi: Việc trong những biểu tình vì Hoàng Sa, Trường Sa, và Biển Đông có những biểu trưng chính trị khác nhau (thậm chí ngược nhau ngay trong một cuộc biểu tình) theo tôi chẳng giúp thế giới hiểu gì về Việt Nam và rất có thể giảm mạnh hiệu qua của những nỗ lực để huy động sự ủng hộ của quốc tế.

Đối với những cuộc biểu tình, vấn đề “thông điệp” là hết sức cơ bản và quan trọng. Rõ rằng đến nay những biểu tình trong nước đã chưa thành công. Ở ngoài nước, tôi cũng lo hơn một chút. Từ những người phô bày những hình ảnh của Hồ Chí Minh tại Hồng Kông (nghĩ gì về HCM, Ông thực sự có liên quan gì không? Có giúp thế giới thương Việt Nam?) cho đến những bạn hát các bài của VNCH ỏ Mỹ (vâng, hát thì hát nhưng hát cho ai?), phải nhớ rằng, đối với những ai mà không phải là người Việt Nam, thì thấy hình ảnh của HCM hay cơ vàng họ sẽ nghĩ đến Cụ Ông KFC hay hàng ĐHL hơn là đọng thái bất chính đáng của Trung Quốc.

Vì thế, những sự chia rẽ và những thông điệp không rõ hay không liên quan theo tôi là một trở ngại cực lớn phải cố gắng khắc phục một cách nào đó.

Vậy, nhờ bạn xem hình ảnh ơ dưới. Dù ảnh này chưa được đẹp lắm, và chỉ có vài người, hình ảnh là hay ở chỗ là nội dung của nó là rõ, thống nhất, và thông điệp đang được gửi là cực rõ và liên quan trực tiếp đến vấn đề. Ai mà không mù chữ và sáng tạo một chút cũng có thể tạo ra nhũng cách để gửi những thông điệp rõ mà cần được gửi.

Good Vietnam protest pic

Như thế này hay hơn nhiều!

Nói thế tôi chẳng có ý nói xấu gì (dù thừa nhận cách viết trên cũng quá đáng một chút).Và đương nhiên chủ đề này còn rất phức tạp. Trên FB cũng có người nêu những vấn đề về lá cờ và những vấn đề trên đường xây dựng một trật tự xã hội dân chủ hơn ở Việt Nam.

Rõ ràng những bạn đang biểu tình vì đất nước đều rất là tâm huyết, dù biểu tình trong nước vẫn gặp những trở ngại. Vấn đề là ở chỗ cách làm, hoặc là những thông điệp đang gửi. Về toàn thể – tôi lo những thông điệp rất có thể là còn quá yếu, vì chưa rõ, vì chưa (đủ) thống nhất. Nói thế có đúng không? Và nếu có, xin hỏi: Có giải pháp cho vấn đề này không? Hay chỉ cứ làm mãi kiểu cũ của mình trong một lúc quyết định?

Trong trang FB của mình đã có tới 200 bình luận hay. Ở đây chỉ xin chia sẻ một trong những bình luận đó, là của bạn Bà Đầu Đinh mà đã phân tích như ở dưới. Xin chia sẻ toàn bài:

Hàn gắn sự chia rẽ Việt Nam

Jonathan London có nói đến sự chia rẽ hay bất đồng chính trị giữa những người Việt Nam. Chủ đề JL đưa ra thực sự là “nhạy cảm”. Vì nó đụng chạm đến những khía cạnh hận thù, rắc rối, gây chia sẽ, và cả những xung đột lợi ích nữa.

Lịch sử để lại. Cuộc chiến kéo dài mấy chục năm. Cuộc chiến đó là cuộc xung đột dai dẳng trên nhiều lĩnh vực. Xung đột về hệ tư tưởng (quốc gia, cộng sản). Xung đột của chiến tranh lạnh (sự can thiệp hay là xung đột giữa các nước lớn, giữa Mỹ và Nga Xô, Trung Cộng). Xung đột của những hận thù dân tộc.

Sự chia rẽ, và hận thù.

Những hận thù, tội ác bên này gây cho bên kia và ngược lại. Và chiến tranh càng kéo dài, hận thù càng chồng chất. Một bên sẽ kể về những cuộc cải cách ruộng đất, cải cách tư sản, cuộc di cư, trận chiến Mậu Thân…. Một bên sẽ kể về những cuộc thảm sát luật 10/59, nhà tù Phú Lợi, Côn Đảo, Phú Quốc, Mỹ Sơn…. Xung đột này xuất hiện ở mọi gia đình Việt Nam. Hầu hết các gia đình Việt Nam đều có người thân, anh em, họ hàng thuộc về cả 2 phía. Đó thật sự là một bi kịch. Bi kịch khủng khiếp giữa những người thân trong gia đình, dòng họ.

Với tất cả những “di sản” nặng nề này, người Việt Nam thật không dễ để rút chân ra khỏi vũng lầy của sự hận thù. Xung đột sắc tộc diễn ra ở khắp nơi trên thế giới. Mỗi nơi có những đặc thù riêng. Nhưng những vấn đề do lịch sử để lại luôn là những vũng bùn to lớn và nhầy nhụa. Thật khó mà rút chân ra.

Ngày xưa, khi người Pháp đến Việt Nam, họ đã chia Việt Nam thành 3 miền. Ngày đó, lịch sử đã gọi đó là “chia để trị”. Rồi, Mỹ cùng với Nga và Tàu lại tiếp bước Pháp, lại chia Việt Nam thành 2 miền. Cuộc chia cắt dai dẳng, kéo dài hàng trăm năm, cộng với chiến tranh tàn khốc. Người Việt, cho dù không coi nhau như những người khác nước (có lẽ khác với Triều Tiên – Hàn Quốc, Mông Cổ – Nội Mông, và có thể ở nhiều nơi khác nữa…) nhưng lại coi nhau như người ở 2 chiến tuyến.

Các nước lớn đã không thành công khi chia cắt đất nước, nhưng đã thành công khi chia rẽ lòng người Việt Nam. Trong khi những cuộc chiến sắc tộc trên thế giới cứ kéo dài vô tận, với hận thù vô tận, chồng chất, thì với người Việt, câu chuyện không phải là sắc tộc, nhưng cũng là hận thù và chia rẽ.

Bàn tay của các nước lớn.

Có người nói rằng Mỹ đã ném 2 quả bom nguyên tử xuống Nhật, hàng bao tấn bom xuống Việt Nam, đó là cái giấy nợ. Quả thực, nếu người Mỹ coi đó là cái “giấy nợ” thì người Mỹ cũng là đáng tôn trọng. Câu hỏi là vậy người Nga Xô, Trung Cộng có nghĩ đến cái “giấy nợ” của họ không? Nếu không có họ, chắc đã không có cuộc chiến đó. Điều đáng suy nghĩ là, bàn tay của những nước lớn vẫn đang tiếp tục thò vào câu chuyện của Việt Nam.

Hàng ngày, hàng giờ, câu chuyện Biển Đông đang có sự hiện diện của các nước lớn. Họ giúp làm dịu tình hình hay họ khoắng cho nó đục ngầu lên?! Và chính người Việt, từ các phía, đang bị lôi kéo vào những vụ “khoắng đục ngầu” lên.  Sự thực thì người Việt được lợi gì khi cứ bị cuốn theo những cuộc tranh giành của các nước lớn. Nếu người Việt không tỉnh ra, không biết tự chủ trong suy nghĩ của mình, cứ tiếp tục chạy theo những bàn tay lớn thì không biết đến bao giờ mới dừng cuộc tranh cãi giữa những người tự coi là cùng giòng giống.

Hệ tư tưởng

Mọi người nói nhiều đến hệ tư tưởng. Bên quốc gia, bên cộng sản. Cuộc chiến tư tưởng này chính là nguồn gốc gây chia rẽ. Cuộc chiến tư tưởng gây ra xung đột, và kết quả là gây ra hận thù. Nhưng, chúng ta thử suy nghĩ kỹ xem cái hệ tư tưởng này là cái gì? Cái hệ tư tưởng này liệu có khả năng cải thiện, thay đổi được không?

Thật ra, trước khi có cái hệ tư tưởng này thì người Việt chẳng có gì phải xung khắc với nhau cả. Bỗng một ngày vớ vẩn nào đó, bọn phương Tây nó đem cái hệ tư tưởng gây chia rẽ này đến Việt Nam và người Việt Nam ngây thơ, và mắc vào cái mớ bòng bong này. Tôi nói ra điều này chắc sẽ ăn đá của cả 2 bên. Cả bên Quốc lẫn bên Cộng sẽ bảo rằng tôi nói láo. Rằng tôi mất lập trường. Nhưng, xin mọi người hãy bình tĩnh. Xin hãy suy nghĩ kỹ rồi có ném đã sau cũng chưa muộn.

Vả lại, xin mọi người cho phép tôi có cái quyền được nói. Quyền có ý kiến trái chiều. Nếu người Việt vẫn còn bám víu vào những cái hệ tư tưởng từ đẩu từ đâu mang đến này để mà anh em, ruột thịt tiếp tục xông vào xung đột với nhau thì phỏng có ý nghĩa gì không? Ai được lợi từ những cuộc xung đột tư tưởng này? Người Mỹ, cùng với người Nga, và người Tàu mang những cái thứ xung đột tư tưởng này đến Việt Nam, rốt cuộc ai được hưởng lợi? Người Việt được gì? Người Việt tự xông vào xoi mói nhau thì được gì? Người Việt đã bị chia cắt quá lâu rồi. Nếu tiếp tục như thế này thì chia cắt đến bao giờ?

Nhiều người sẽ nói rằng nếu cứ tiếp tục tư tưởng CS thì không phát triển được đất nước. Có người sẽ nói rằng tư tưởng quốc gia của Ngụy ngày xưa thì chỉ làm hại đất nước. Nếu cứ tiếp tục xỉa xói nhau như thế thì giải quyết được gì? Trong một nhà cũng luôn có nhiều ý kiến khác nhau, trong xã hội luôn có những ý kiến trái chiều. Liệu chúng ta có thể học cách tôn trọng ý kiến, tư tưởng của các bên được không? Liệu có thể chấp nhận khác biệt tư tưởng để cùng bắt tay nhau không? Liệu có thể đừng mắng nhiếc tư tưởng của nhau hay không? Cái này có vẻ khó đây!!!

Kết nối từ tất cả các bên

Mọi người sẽ nói rằng lỗi là tại bên phía nhà nước CS còn phân biệt. Có người sẽ nói là những người hải ngoại vẫn cứ tiệp tục hận thù… Tất nhiên, muốn hòa giải thì phải có thiện chí. Không có thiện chí thì quả là khó. Nhưng có thiện chí vẫn chưa đủ. Cần phải chủ động hành động, vận động. Cuộc chia rẽ đã quá lâu, quá sâu sắc nên việc hàn gắn không hề dễ dàng. Nó đòi hỏi chủ động, và hành động, vận động quyết liệt.  Nếu cứ ngồi chờ phía nhà nước, hay ngồi chờ phía hải ngoại thì… chả biết đến bao giờ. Gần đây, đã có rất nhiều hoạt động, hành động nhằm hàn gắn, kết nối. Chắc chắn trong tương lai gần tình hình sẽ cải thiện lên nhiều.

BĐĐ HN, 8/7/14

Xin thêm vào đó một ý tưởng kết thức. Trong quá trình đấu tranh, một trong những việc quan trọng nhất Việt Nam phải làm (dù vẫn còn là một điểm yếu) là việc gửi những thông điệp cực rõ cho toàHCM supportn thế giới. Ngoài những biểu tình cũng cần có những nỗ lực khác nữa. Chẳng hạn, không ít người cho rằng Việt Nam phải tập trung đầu tư cho một nỗ lực lớn trong việc này. Như một bạn đã chia sẻ,việc đó rất có thể quan trọng hơn là chỉ đâu tư chạy đua mua vũ khí quốc phong mà thôi.

Vậy, dù qua những biểu tình hay những phương điện khác, Việt Nam phải gửi những thông điệp rõ mạnh và hiệu quả. Rồi, xem các bạn nghĩ sao và làm gì.

JL, Hồng Kông

 

Share Button

Khảo sát GCI mà xếp hàng Việt Nam gần chót đóng góp gì cho nhân loại? (Và một số vấn đề liên quan)

Tối hôm qua tôi cùng với vài người khác đã được đài BBC Tiếng Việt mời tham gia một ban tròn với chủ đề “Việt Nam đóng góp gì cho nhân loại?” Ban đầu chương trình có ý định tìm hiểu câu hỏi này trong 3 lĩnh vực lơn: khoa học, văn hóa, và bảo vệ môi trường. Việc có thảo luận này xuất phát từ những tranh cãi xoai quanh kết quả của một khảo sát quốc tế mang tên “The Good Country Index” (GCI) mà đã xếp hàng Việt Nam gần chót: thứ 124 trên 125 nước!!!

Như đã được BBC nêu, khảo sát GCI “đánh giá đóng góp của 125 nước” (mà có thông tin đầy đủ) dựa trên bảy tiêu chí về thành tích như khoa học công nghệ, văn hóa, hòa bình và an ninh quốc tế, trật tự thế giới, khí hậu, thịnh vượng, bình đẳng, sức khỏe…” theo số liệu thông kê thu thập từ các khảo sát quốc tế khác nhau. Vậy, GCI là một khảo sát hợp lại.

Nói chung, chúng ta nên luôn luôn có một thái độ hoài nghi đối với những khảo sát như này, chính vì họ gần như là luôn luôn dựa vào những thông tin mỏng manh hay quá phức tạp, dẫn đến những quan điểm hết sức nông cạn, không tin cậy, thậm chí nguy hiểm.

Ngoài những vấn đề về chất lượng số liệu và ý nghĩa, có vấn đề về những tiểu chuẩn được lựa chọn tìm hiểu, vấn để “sự so sánh được” (comparability) qua các nước. Hơn nữa, có những hạn chế về quan điểm riêng của (bias/hướng) của những tổ chức và cá nhân mà thiết kế, tài trợ, thực hiện, phân tích, và trình bầy kết quả. Như một bạn người Việt Nam của tôi đã chia sẻ: những “khảo sát thường cho thấy nhiều vấn đề của người khảo sát hơn cả các vấn đề của đôi tượng khảo sát.” Đúng thế!

Tóm lại những khảo sát như này, liệu tìm hiểu về bất kể vấn đề nào thường có những vấn đề sâu về mọi mặt và nhất là tính có thể sáng tỏ được – cái bằng tiếng Anh gọi là interpretability. (Phải nói một số điều tra, khảo sát ‘khoa học xã hội’ ở Việt Nam cũng có những vấn đề này, nhất những cái mà được thực hiện một cách dở, như chỉ phát 30 phần trăm số phiếu và, thôi, về nhà đi!)

Trong trường hợp của GCI tôi thấy rõ tất cả những hạn chế ở phía trên. Hơn nữa tôi thấy riêng khảo sát này có nguy cơ làm lộn xộn “giá trị” của một nước với việc đóng góp cho thế giới. Tóm lại, về nhiều mặt khảo sát này, dù có thể có ý định tốt, là rất vớ vẩn.

Vậy, làm sao dành thời gian đề cập khảo sát này? Đó là một câu hỏi rất tốt!!! (Vì có quá nhiều vấn đề cần lo, từ việc đón con cho đến Biển Đông! Thực vậy, một trong những hậu quả xấu nhất của những khảo sát như này là những người bình luận như tôi mất rất nhiều thời gian và công sức! “Rõ ràng tôi quá nghiện (tức quá mê) Việt Nam rồi!

Vậy, với tình thần vừa phải (tức không nghiêm túc quá), cần chia sẻ một số bình luận cả hài hước lẫn nghiêm chỉnh để sáng tỏ những kết quả của khảo sát riêng đối với Việt Nam. Sau đó tôi sẽ kết thúc với một số nhận xét mà cố gắng liên kết thảo luận về GCI đối với sự phát triển của đất nước nói trên và vấn đề Trung Quốc nói riêng.

Trong khảo sát, GCI có thu số liệu đối với ba mươi lăm (35) chỉ số qua bảy (7) lĩnh vực khác nhau đã nêu ở trên. Ở dưới này xin đề cập mốt số chỉ số mà đã làm cho vị trí của Việt Nam xuống thấp và phân tích một cách rất nhanh và chung “theo quan điểm tự sinh của tôi” ( theo quan điểm của riêng tôi).

Chỉ số 1: Số sinh viên nước ngoài đang học ở Việt Nam. Và trong số đó họ có thích học các môn như môn triết về chủ nghĩa Mác – Lê Nin? Bình Luận (BL): Có bất ngờ đâu. Có ai muốn sang Việt Nam để học CN Lenin hoặc những môn bị kiểm duyệt nặng vậy không?

Chỉ số 2: Xuất khẩu những tập chí khoa học, tờ báo v.v. BL: Vậy, Việt Nam muốn lên bằng phải bất đầu dịch và xuất khẩu các báo An Ninh Thế GiớiNhân Dân, và Xây Dựng Đảng càng nhanh càng tốt. Tốt hơn nữa, nên cải cách bào chí và giáo dục để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các ngành đó và cả nước.

Chỉ số 3: Số bài nghiên cứu được xuất bản trong những tập chí khoa học quốc tế. BL:” Đơn giản là hậu quả của một hệ thống nghiên cứu mà quá nhiều khi đặt đường lối trên khoa học” ( Đơn giản là hậu quả của một hệ thống nghiên cứu đã quá chú trọng theo lý thuyết khoa học mà không dựa trên thực tiễn) ; một xu hướng mà dù có chức năng của nó đã bị lỗi thời.

Chỉ số 5: “Số lần xin patent” (Số lần xin bằng phát minh sáng chế)  BL: Phản ánh sự phát triển chậm của cái gọi là “năng lực sáng tạo quốc gia” (national innovative capacity), chủ yếu vì giáo dục đại học, hệ thống khoa học đã bị bỏ qua vài thập kỳ vì điều kiện và ý tưởng chưa chuẩn của Nhà Nước và kể cả Ngân Hàng thế giới tại Việt Nam. Tình hình đã thay đổi nhưng sự phát triển của ngành đại học vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của đất nước. Cần một tầm nhìn mới. Trong khi đó, hãy patent (xin cấp bằng sang chế) điếu cầy và thuốc lào đi! Toàn thế giới sẽ mê Việt Nam luôn!

Chỉ số 9: Số nước các công dân của đất nước được miễn thị thực. BL: Một phần là hậu quả của những điều kiện lịch sử và đương đại của đất nước. Vấn đề này có thể giải quyết cực nhanh (tức trong vong 20 năm) nếu cải cách như Hàn Quốc.

Chỉ số 10: Tự do báo chí. BL Một trong những hạn chế lớn nhất của đất nước Việt Nam.

Chỉ số 11: Số người lính được gửi các nước để giữ hòa bình cho LHQ. BL: Số này đang gia tăng và sẽ gia tăng vơi sự tham gia đang mở rộng của Việt Nam trong LHQ.

Chỉ số 15: Về An Ninh Internet. BL: Không BL gì, chỉ gửi lời Xin tới các bạn Dư luận viên!

Chỉ số 16: Tỷ lệ dân số đóng góp tự nguyện cho xã hội. BL Nếu tính cả các kinh phí xã hội hóa thì Viẹt Nam sẽ vô địch. Nói thật, người Việt Nam đóng góp “nhiều lắm rồi” (rất nhiều) nhưng phần lớn là không chính thức. Những khảo sát chỉ hỏi về chính thức tức là gần như là vô nghĩa.

Chỉ số 17 và 18: Số người tỵ nạn quốc tế được nhận và số người tỵ nạn quốc tế ở hải ngoại. BL Vì những lý do lich sử và thể chế Việt Nam đã ‘chuyên’ về xuất khẩu tỵ nạn hơn là nhập khẩu tỵ nạn.

Chỉ số 20: Số Hiệp Định được ký (chỉ số này là để hiểu về động thái của ngoại giao v/v giải quyết các xung đột một cách hoa bình: BL: Nếu trước đây đã không cần hiệp định nào (không dám nói đến HĐ Pari!) vì đã có 4 tốt, 16 chữ vàng. Hiện nay hình như Việt Nam có thể năng cao chỉ số này qua việc ký Hiệp Định với Philippine, Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ Đế Quốc. Đến nay, các Đồng Chí ở phía bắc hay Nga vẫn chưa thích hiệp định vì thực hiện luật rừng không cần giáy tờ nào.

Chỉ số 23, 24, 25: Ỗ nghiễm môi trường. BL: Ngoài vấn đề ô nghiễm âm thanh do loa phường gây ra, không cần BL, chỉ ra nhà vài phút mà thôi hay ăn Vedan hay một số thực phẩm, không cần cụ thể hóa. Gần đây tôi rất lo khi nghe nói ở một số tỉnh Bình Định còn có những công ty đang nhập khẩu những loại thuốc trừ sâu mà đã bị cả Trung Quốc đã bỏ rồi, và bị bỏ ở các nước phương tây hơn 30 năm gì đó chỉ vì” tiền đô còn đâu tiên” (tiền đô là vấn đề đầu tiên).

Chỉ số 26: Thương mại qua biên giới: BL: Nếu tính được hàng lậu chỉ số của Việt Nam sẽ tăng vọt. Mặt khác, những “đồng chí tốt” ở ngoài bắc tiếp tục xâm lược thì chỉ số này có thể thay đổi những cách thứ vị

Chỉ số 31: Số tấn thực phẩm được gửi sang nước ngòai (bằng tấn lúa mỳ). BL: Ở Việt Nam “chẳng trong” (không trồng) lúa mỳ; hãy tập trung vào số lượng gạo hay mì tôm. Nói thật, nên đầu từ vài tỷ đô xem có ai làm phở bò Hà Nội hay Hủ Tiêu Saigòn chuẩn trong một hộp ngon bằng mì tôm Hàn Quốc?

Thực ra, những bình luận trên còn chỗ thiếu tính xây dựng và hy vọng tất cả bạn Việt Nam đồng ý hay không đồng ý với tất cả những ý tưởng của tôi cũng có thể cười và suy ngẫm. Thực vậy, dù những khảo sát như GCI và chính GCI là vớ vẩn và đáng tiếc (đặc biệt đối với sự hiểu biết về Việt Nam ở ngoài Việt Nam) thì ít nhất là một cơ hội để suy ngẫm. (Dạo này tôi suy ngẫm rất nhiều về suy thóai của nền dân chủ của Mỹ, nhưng cũng là cơ hội để học nó, tìm hiểu nó, và đấu tranh).

Theo tôi, đóng góp của Việt Nam không chỉ là lớn hơn đã được phản ánh trong GCI mà là sẽ mạnh hơn nhiều trong những năm tới nếu Việt Nam khắc phục những hạn chế thể chế và chuyển sang những thể chế minh bạch và dân chủ hơn. Dù tôi rất e ngại khi Ông TBT nói “có khả năng ta phải chờ tới cuối thế kỳ này CNXH Việt Nam mới được hoàn thiện”, tôi cũng có thể đồng ý, cón quá sớm để biết những đóng góp của Việt Nam sẽ thế nào.

Đọc kết quả khảo sát của GCI tôi như nhiều người Việt Nam khác thấy rất buồn tiếc và giật mình vì nhiều lý do khác nhau. Song, GCI cũng là một cơ hội tốt để suy ngẫm không chỉ về sự thiếu hiểu biết về Việt Nam của thế giới bên ngoài mà về những trở ngại của đất nước.

Tôi chưa hài lòng lắm với bài này. Nhưng dù sao cũng phản ánh phần nào tình trạng của Việt Nam lúc bấy giờ. Chúng ta có thể bàn mãi về những vấn đề nay. Như đã hàm ý trên, tôi không thích và không tin cậy những khảo sát kiểu này và tháy học thực sự là một sự làm hại. Tức là khảo sát về đóng góp này chẳng đóng góp gì lớn cho thế giới.

(Xin hỏi, nước đảo Ireland là số 1 trong khảo sát vì xuất khảo dước phẩm nhiều nhất và vì có khối lượng thương mại qua biển cực lớn nhưng ở phía sau phải biết cách đây 20 năm chính quyền ở nước đó đã áp dụng những chính sách quá đáng: Mời hàng luật công ty nước ngoài vào một chế độ mà không đống thuế nào, thành một thiên đường neo-liberal, và dù có tăng trưởng kinh tế lớn cùng lúc đã phá hoại mực sống của người dân nước đó. Là đóng góp cho ai đây?)

Là một người quan tâm đến Việt Nam, tôi biết Việt Nam là một nước rất tốt rồi, dù là một nước còn một số hạn chế về thể chế cần và nên khắc phục. Như đã nói tối hôm qua, vaì trò chủ yếu của nhà nước nào ở bất cứ nước nào là để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhân dân. Vậy, tôi vẫn cho rằng nếu Việt Nam cải cách sâu rộng một cách kịp thời và toàn diện, sự phát triển của đất nước sẽ đi nhanh hơn nhiều và toàn thế giới sẽ chẳng cần những khảo sát để thấy Việt Nam là một good country (tức đất nước tốt).

Ngoài ra, nếu Việt Nam có thể giúp thế giới một phần đề cập vấn đề chủ nghĩa bành trướng và phát triển một khuôn khổ vùng bên vững sẽ là một đóng góp vo cùng lớn.

Ai có quan tâm có thể xem toàn chương trình của BBC tại đây, dài nửa tiếng.

Tạm biệt
JL, Hồng Kông

—-
Cho mọi người biết, tháng vừa rồi tôi đã đi công tác và vì thế đã tạm nghỉ việc blog.

 

Share Button