Phương thuốc gì cho ngành Y tế Việt Nam?

Ngành Y tế của Việt Nam đang rơi vào một cuộc tranh cãi lớn trong lúc cả người dân lẫn chính phủ đang đối phó với một sự bùng nổ trong số lượng ca bệnh sởi ở một số vùng, trong đó có TPHCM và Hà Nội.

Từ đầu năm, sự bùng nổ này đã trực tiếp hay gían tiếp gây ra cái chết của hơn 111 trẻ em, trong đó ít nhất 25 ca tử vong trực tiếp do bệnh sởi. Đến ngày ngày 8 tháng 4, số ca bệnh sởi được công bố là 2,492 ca.  Đến ngày 18 riêng Hà Nội đã có 1,062 ca và đến ngày 16/4/2014, cả nước đã ghi nhận có 3.126 trường hợp mắc sởi trên 8.441 người bị phát ban nghi mắc sởi tại 61/63 tỉnh, thành phố, theo Bộ y tế. Và có khả năng sự bung nổ này sẽ sớm được tuyên bố là dịch bệnh.

Theo tôi hiểu, tính đến thời điểm hiện tại, quy mô của sự bùng nổ bệnh sởi năm nay, dù lớn nhưng đến bay giờ vẫn chưa bằng một số năm gần đây, ví dụ như 2009-2010. Và chúng ta cũng được biết, nói chung, mức độ nguy hiểm của virus bệnh sởi về cơ bản là không thay đổi từ năm này qua năm khác. Tuy nhiên, vấn đề đáng lo lần này chính là tỷ lệ tử vong và sự xuất hiện của những ca nghiêm trọng cao hơn bình thường. Do đó, nếu Việt Nam đang đối phó với một dịch bệnh thực sự thì tình hình có khả năng xấu đi.

Về những vấn đề kỹ thuật tôi không có nhiều để nói vì tôi không phải là cán bộ y tế chuyên nghiệp.  Nói nhiều mà thiếu cơ sở không ích gì mà cũng có thể gây hoang mang. Mới lên trang web của Bộ Y tế thấy họ có đang trả lời câu hỏi qua mạng, và đang áp dụng những giải pháp khác. Hy vọng những giải pháp này sẽ hiệu quả. Hiện nay có vẻ ngành y tế đã lên báo động cấp cao.

Chắc chắn những thảo luận về sự thực hiện của ngành y tế nên và sẽ tiếp tục trong thời gian tới. Trong khi đó, những có hỏi như “vì sao?” “làm gì?” và “làm thế nào” đang được hỏi một cách rộng rãi. Ở đây, tôi chỉ xin chia sẻ một số ý tưởng ban đầu về tình trạng bệnh sởi và tình trạng chung của ngành y tế. Trong khi đó không quên một lúc nào vấn đề chính trước mặt là phòng chống đe dọa sức khỏe công cộng này một cách toàn diện và hiệu quả.

Tranh cãi về sự bùng nổ bệnh sởi

Cũng như các tranh cãi có quy mô lớn khác, tranh cãi về bệnh sởi lần này đến từ nhiều yếu tố. Từ một góc nhìn khách quan, có hai tranh cãi chính. Một là cách kiểm soát và tiếp cận xử lý bệnh dịch sởi của ngành y tế. Thứ hai là cách quản lý và công bố thông tin.

Khi phân tích nguyên nhân của cuộc khủng hoảng dịch sởi ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy rõ ràng có nhiều hiện tượng có vấn đề. Hệ thống các bệnh viện nhi ở Việt Nam, đặc biệt là ở Hà Nội đã trong tình trạng quá tải từ lâu và cách quản lý số lượng bệnh nhân không những không có hiệu quả mà còn trực tiếp gây ra tình trạng lây lan virus. Khi trẻ em đến bệnh viện, mỗi giường bệnh phải cho 2, 3, 4 tới 5 trẻ nằm chung, lại có cả thành viên trong gia đình của trẻ mắc bệnh cũng ở lại bệnh viện thì sẽ không bất ngờ khi con số ca tử vong và nghiêm trọng đang tăng.

Tất nhiên, với những người (như tôi) không được đào tạo trong ngành y, sẽ không thể khẳng định một cách chắc chắn những gì mình không biết rõ, nhưng sẽ không cần phải đoạt giải Nobel về Y học để có thể hiểu được rằng những điều kiện quá tải và sự quản lý thiếu hiệu quả cần phải xử lý ngay lập tức. Từ góc độ này, việc khuyến khích các gia đình có con mắc bệnh không nên tập trung vào những bệnh viện tuyến TW là hợp lý, dù có thể muộn đi mấy tháng.

Về vấn đề quản lý thông tin thì chúng ta sẽ có cảm giác như đang phải đối mặt với một hộp đen. Vì nhiều lý do (cả đơn giản lẫn phức tạp sẽ được đề cập ở dưới đây), sự uy tín của ngành y tế ở Việt Nam đã giảm sút một cách nghiêm trọng trong những năm gần đây. Có thể nói, những chính sách y tế của Việt Nam vẫn có nhiều yếu tố rất tốt. Tuy nhiên, cũng như ở nhiều nước trên thế giới, sự minh bạch của ngành y tế Việt Nam là một vấn đề cực lớn.

Là một người đã và đang nghiên cứu về ngành y tế của Việt Nam, tôi cũng được biết những người làm trong ngành cũng rất lo cho danh tiếng của ngành mình. Cái cách mà ngành Y ‘quản lý’ thông tin là rất, thậm chí có thể nói là quá chặt chễ. Vì vậy, hiện tượng không ít người phải đặt ra câu hỏi liệu có phải ngành y tế đã giấu quy mô của dịch bệnh là không bất ngờ cũng như việc có những người trong ngành lên án vai trò của báo chí.

Đại đa số người cả trong lẫn ngoài ngành y tế hiểu rõ vấn đề bệnh sởi này cũng như những vấn đề trước đây là hậu quả của những điểm yếu có tính hệ thống trong ngành y tế. Dù nhiều người đang đòi Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến từ chức, và dù trách nghiệm giải trình luôn luôn là quan trọng, những vấn đề Việt Nam đang đối phó cũng phải có giải pháp mang tính hệ thống.

Vậy, có hai vấn đề phải tách bạch. Về ngắn hạn, phải làm gì một cách cụ thể để ổn định hóa tình trạng trong việc khám chữa bệnh đối với bệnh sởi và quản lý thông tin một cách minh bạch, chính xác và rõ ràng.  Về trung hạn (không thể dài hạn được), phải nỗ lực để tăng tốc độ cải cách ngành y tế.

Tất nhiên, vấn đề cải cách ngành y tế chẳng đơn giản đâu vì những vấn đề trong ngành y tế chỉ phản ánh những điểm yếu trong những thể chế của Việt Nam. Bình thường, khi dân gặp khó khăn trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, họ sẽ tự có trách nhiệm cho bản thân.  Tuy nhiên, trường hợp một cơn đại dịch xảy ra thì lại là một chuyện khác; qua dịch sởi lần này, người dân đã có thể thấy rõ những hạn chế của những thể chế Việt Nam có tính chất sống còn.

Sức khỏe của ngành y tế Việt Nam

Nhìn chung, ở nước nào ngành y tế cũng có khả năng thành một lĩnh vực đầy tranh cãi, chính vì hành động của ngành có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sức khỏe và mức sống của mọi người trong  xã hội đó.  Đối với y tế, các nước không đều như nhau và sự thực hiện của ngành cũng có thể thay đổi qua nhiều năm.  Khi nhiều người không hài lòng với ngành y tế hay ngành mất uy tín thì là một vấn đề rất lớn.

Trong quá trình đổi mới ở Việt Nam thì ai cũng đều biết ngành y tế đã và đang là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm. Những bất cập trong ngành xuất phát từ cách phát triển của ngành và lộ trình cụ thể của nó trong ba thập kỷ qua.

Trong nhiều năm, ngân sách mà nhà nước Việt Nam dành cho ngành y tế là quá thấp. Chẳng hạn, trong những năm 90, (vâng tôi biết Việt Nam vẫn khổ trong thời điểm đó) số tiền chi ra cho y tế chỉ là trên dưới 1% tổng GDP của đất nước (so với 3% như hiện nay). Và, nói chung, trách nhiệm về vấn đề chi trả dịch vụ y tế đã được chuyển từ phía nhà nước đến hộ gia đình; hậu quả là vào cuối những năm 1990, 80% số tiền được chi cho dịch vụ y tế là tiền người dân bỏ ra từ túi của họ; chuyện đó đã có hậu quả là dịch vụ y tế đã bị ‘thương mại hóa’ một cách quá mạnh, dẫn đến nhiều điểm bất công.

Tăng trưởng kinh tế về sau này đã cho phép Việt Nam và ngành y tế giải quyết một số vấn đề trong ngành y tế, như mở rộng hệ thống, hiện đại hóa trang thiết bị và một sự thật rất đáng mừng là Nhà Nước Việt Nam trong những năm gần đây đã đầu tư nhiều hơn cho ngành Y Tế. Việc bảo hiểm Y tế đang phát triển (dù có nhiều bất cập) cũng là việc tốt.

Nhưng khác với trước đây, vấn đề ở Việt Nam hiện nay không chỉ còn là số tiền chi trả cho y tế (cả từ phía nhà nước lẫn túi người dân) là đủ. Vấn đề là số tiền đó được dùng để mua gì. Vấn đề là hiệu quả kinh tế của ngành đối với sức khỏe công cộng. Điều này làm cho tôi nhớ đến nước Mỹ, nơi vấn đề chủ yếu là số tiền chi trả khổng lổ; cả lãng phí lẫn không hiệu quả.

Thứ hai là bộ máy quản lý ngành còn nhiều vấn đề từ cấp trung ương đến địa phương. Tôi không có âm mưu tấn công ai cả mà chỉ khẳng định nhiều vấn đề trong ngành có liên quan đến tình hình quản lý trong ngành. Tôi đoán kể cả những cán bộ cao cấp trong ngành sẽ chấp nhận quan điểm này. Lấy một ví dụ cụ thể: tình trạng ở nhiều bệnh viện của Việt Nam còn quá tải. Ở những bệnh viện TW cũng có thể là hậu quả của việc dân muốn lên tuyến trên. Ở những người khác, vấn đề chưa chắc xuất phát từ việc số giường bệnh còn thiếu. Vấn đề là những khuyến khích kinh tế. Việc xây thêm bệnh viện mới chưa giải quyết vấn đề nếu không đề cập đến nguyên nhân cơ bản.

Có lẽ Bộ Y tế vẫn quá thiên về các bác sĩ mà quá xem nhẹ những người có kỹ năng quản lý. Vâng, ở nhiều bệnh viện trong phạm vi cả nước những khuyến khích kinh tế được quan tâm hơn cả sức khỏe của bệnh nhân (vấn đề này là vấn đề quốc tế chứ). Và vâng, tình hình Y đức ở Việt Nam phải được cải thiện nếu muốn nâng cao chất lượng của dịch vụ trong ngành. Tôi cũng như các bạn đã nghe những chuyện sợ lắm về ngành y tế (‘muốn cái chích đau hay không đau,’ ‘muốn sống hay về nhà?’).

Chắc chắn có nhiều cái về ngành Y tế là duy nhất. Thế nhưng, nhiều vấn đề trong ngành rất có liên quan đến những vấn đề trong các ngành khác. Thiếu minh bạch, thiếu trách nhiệm giải trình, những vấn đề đối với những khuyến khích tài chính ở các đơn vị dịch vụ và chất lượng quản lý của ngành chưa thực sự phù hợp với nhu cầu của một ngành y tế hiệu quả.

Trong một bối cảnh như thế này, khi có những vụ án như bác sĩ làm chết bệnh nhân và bỏ xác thì nhiều người muốn ai chịu trách nhiệm. Điều đó dễ hiểu thôi. Tôi chỉ xin nhắc lại cho bạn là dù mọi người đều có trách nhiệm của họ, đại đa số vấn đề trong ngành là thuộc thể chế và quản lý. Trách nhiệm giải trình của bộ Y tế đối với dân nên là ở chỗ cải cách ngành. Những thói xấu ở một số người trong ngành thực sự là bi kịch nhưng chưa chắc một bộ trưởng có thể xóa bỏ ngay được vì những vấn đề này đã có từ lâu. Những vấn đề của ngành có tính hệ thống.

Kết luận

Ở phía sau cuộc khủng hoảng bệnh sởi hôm nay là những vấn đề trong ngành y tế mà đã và đang kéo dài từ lâu. Tôi hy vọng khủng hoảng hôm nay sẽ giúp cả nước tập đề cập những vấn đề này. Trong việc quản lý thông tin, quản lý bệnh viện và quản lý ngành y tế nói chung. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự minh bạch và trách nghiệm giải trình là hai trong những cách điều trị có hứa hẹn nhất. Tôi chỉ lo để điều trị ngành y tế phải điều trị cả bộ máy.

JL

 

Trung lưu mong manh

Có một bài rất đáng đọc có tựa đề “Trung Lưu mong manh” (“The fragile middle“) – được đăng trên tờ Thời báo Tài chính (The Financial Times). Bài này, do Shawn Donnan, Ben Bland, và John Burn-Murdoch viết, bắt đầu bằng một ví dụ điển hình từ Indonesia, để đề cập đến vấn đề toàn cầu, một vấn đề có vẻ sẽ trở thành một vấn đề rõ nét trong những năm tới.

Đó chính là tình trạng trên dưới 2,8 tỷ dân trên thế giới hiện này có mức độ thu nhập bình quân từ 2 đến 10 đôla Mỹ/ngày. Người ta gọi họ là tầng lớp trung lưu mong manh. Tất nhiên, đọc bài này làm cho tôi nghĩ đến thực trạng, tiềm năng và tương lai của Việt Nam.

Dưới đây (trong phần I và II) tôi sẽ trình bày nội dung của bài do tôi dịch sang tiếng Việt. Sau đó, sẽ nêu rõ một cách ngắn gọn sự tương đồng của cái gọi là tầng lớp “trung lưu mong manh” ấy đối với người dân Việt Nam.

I.   Chuyện của Muljoko

Muljoko, một người đàn ông 27 tuổi hiện đang kiếm sống bằng nghề dọn dẹp vệ sinh cho những tòa nhà văn phòng cao tầng sang trọng ở Jakarta.

Có rất nhiều thứ để chúng ta liên tưởng tới giải cấp trung lưu: Có xe gắn máy, có vài cái điện thoại di động đẹp…v.v… Tình trạng của ông ta chắc chắn là khá hơn vì gặp may mắn hơn so với thời trước, khi ông lớn lên tại một làng nông nghiệp nghèo nàn ở phía nam đảo Sumatra. Cũng như hàng triệu người trên khắp thế giới trong ba thập kỷ qua, Muljoko đã vươn lên thoát khỏi tình trạng nghèo khó và đang là một nhân viên rất có vị thế trong hàng ngũ những “thị dân trung lưu” đang nổi lên ở Châu Á.

Tuy nhiên, xem xét kỹ hơn tình hình tài chính và những nguyện vọng của ông, chúng ta thấy vị trí của Muljoko trong giai cấp trung lưu là rất mong manh.

Thu nhập hàng tháng của Muljoko là mức lương tối thiểu, khoảng 2,4 triệu Rupi/ tháng; có nghĩa là ông đang sống dựa trên mức thu nhập gần 7 đôla Mỹ/ ngày. Khoảng phân nửa số tiền đó phải dùng để mua thức ăn và trả tiền thuê một căn phòng mà ông đang chia với em trai, trong một nhà tập thể. Sau khi chi trả tiền xăng dầu và sửa xe máy, ông chỉ còn 500,000 Rupi (khoảng 44 đôla Mỹ) hay ít hơn 1,5 đôla Mỹ/ ngày, để chi trả những khoản chi tiêu cá nhân, gửi tiền về gia đình ở Sumatra, hoặc dành dụm tiền cho những dự định ngày cưới của ông trong tương lai.

Vì thế, chẳng bất ngờ khi Muljoko đang rất lo lắng về tương lai. Ông lo sẽ làm gì nếu phải đối phó với trường hợp có người trong gia đình bị bệnh; hoặc làm sao thu nhâp của ông có thể đủ chi tiêu nếu cưới vợ và lập gia đình riêng?

 Theo định nghĩa của “giai cấp trung lưu” được Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB) áp dụng: người có thu nhập từ 2-30 đôla Mỹ/ ngày. Ông ấy là một thanh viên có cuộc sống vững chắc. Nhưng bản thân ông ta không thấy như vậy.

Thực ra, chàng thanh niên Indo này là điển hình cho một nhóm ngày càng được chú ý đến, đặc biệt trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng kinh tế của những nền kinh tế trong khu vục đang có xu hướng giảm.

Tại thời điểm mà nhiều người đang quan tâm đến sự phát triển của giai cấp trung lưu, trên thực tế Muljoko thuộc nhóm có thể miêu tả một cách chính xác là “tầng lớp trung lưu mong manh của thế giới”: Một nhóm gồm có gần 3 tỷ người dân đang sống bằng mức thu nhập từ 2 – 10 đôla Mỹ/ ngày. Mức sống này làm cho họ trên mức nghèo khổ, nhưng vẫn gặp vất vả trong việc đạt sự ổn định về tài chính, yếu tố tiêu biểu của giai cấp trung lưu.

II.   Trung lưu mong manh

Không còn nghi ngờ gì nữa, một thế giới đang ngày càng ít người nghèo hơn so với thời gian trước và những thập kỷ có tăng trưởng kinh tế tốc độ cao đã tạo ra hàng triệu người tiêu dùng trên khắp các nước đang phát triển ở Châu Á.

Nếu năm 1990, ước tính có khoảng 1,9 tỷ người, chiếm hơn một phần ba dân số thế giới đang sống dựa trên mức thu nhập từ 1,25 Đôla Mỹ/ ngày. Thì đến năm 2010, theo Ngân hàng Thế giới, con số này đã giảm xuống còn 1,2 tỷ người,  ít hơn 1/5 tổng dân số toàn cầu.

Hơn nữa, trong 25 năm kể từ sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin, nhóm những người đang có thu nhập từ 2 – 10 Đôla Mỹ/ ngày là một trong những nhóm được hưởng lợi lớn nhất do quá trình công nghiệp hóa và toàn cầu hóa… Nhưng trong bối cảnh toàn cầu, số người đạt mức sống & vị trí ổn định trong “tầng lớp trung lưu’ vẫn còn nhỏ. Trong khi những người không còn nghèo nàn nhưng chưa đạt mức “trung lưu” đã phát triển theo cấp số nhân.

Một phân tích của tờ Financial Times dựa trên dữ liệu qua hơn 30 năm của Ngân hàng Thế giới, thu thập từ 122 quốc gia đang phát triển, cho thấy sự thay đổi này rất rõ. Như tình trạng đói nghèo giảm, số lượng người tập trung tại nhóm trên ngưỡng nghèo (cận nghèo) đã tăng mạnh. Nhưng chỉ có một số lượng tương đối nhỏ trong số những người này có xu hướng vượt ra ngoài nhóm đó. “Kết quả là 4 trong 10 người của thế giới hiện nay đang sống trong thành phần trung lưu mong manh. Tức tỷ lệ nhân loại đang sống trong nhóm này cao hơn bất kỳ nhóm khác” –  Homi Kharas, nhà kinh tế tại Viện Brookings, cho biết.

Trong năm 2010, theo số liệu công bố mới nhất, 40% dân số thế giới – tức khoảng 2,8 tỷ người – sống trên mức thu nhập 2 – 10 Đôla Mỹ/ ngày (được thu thập từ năm 2005, ngang bằng sức mua). Cũng theo phân tích của FT, ở các nước đang phát triển, hiện có 2,4 tỷ người người sống dưới mức thu nhập 2 Đôla Mỹ/ ngày và chỉ 662 triệu ngượi kiếm được hơn 10 Đôla/ ngày. Những con số này phản ánh một sự thay đổi đáng chú ý. Vì vào năm 1981, có 58% dân số thế giới sống dưới 2 Đôla/ ngày. Cũng trong năm đó, chỉ 20% (tức 930 triệu người) trên thế giới kiếm được từ 2 – 10 Đôla/ ngày.

Nhưng, việc tăng thu nhập & lợi nhuận của họ ngày càng trở nên khó khăn. Trong khi đó, sự phát triển mạnh mẽ các nền kinh tế mới nổi trong 30 năm qua, nhiều người cho là dường như sắp kết thúc. Như sự tăng trưởng chậm lại kéo theo sự giàu lên của tầng lớp trung lưu mới nổi ở đô thị ngày càng ít thấy… là điều không thể tránh. Trong một bài báo đăng vào tuần trước, các chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Thế giới (WB) đã cảnh báo rằng: ” Tỷ lệ tăng trưởng ở các nước đang phát triển có thể đạt 2-2,5%, yếu hơn thời gian trước khủng hoảng, tức giai đoạn phát triển vượt bậc”.

Đáng lo ngại hơn, đó là khả năng thời gian tăng trưởng chậm kéo dài sẽ làm suy giảm giá trị tăng trưởng của cả thập kỷ vừa qua. Làm thế nào để nhóm người dễ bị tổn thương có thể thoát khỏi đói nghèo hay tránh những rủi ro rơi trở lại nhóm đó? ”Đó là một câu hỏi rất quan trọng. Và tôi nghĩ rằng họ vẫn còn rất dễ bị tổn thương” – Basu, một chuyên gia Kinh tế nói.

Những thập kỷ thành công của cuộc chiến chống đói nghèo đã dẫn đến một xu hướng tư duy giả định, chỉ có duy nhất một con đường: người dân dịch chuyển ngày càng lên cao hơn trên các bậc thang kinh tế và hiếm khi trượt trở lại. Tuy nhiên, ở nhiều nước đang phát triển, vẫn còn một nhóm rất lớn những người chỉ ở trên và ở dưới mức một chút so với nghèo khổ mỗi năm. Thu nhập của Nông dân Ấn Độ vẫn còn dễ bị tổn thương do một vụ thu hoạch thất mùa, vì vậy việc ở lại hay thoát khỏi đói nghèo thực chất có liên hệ mật thiết với thời tiết nông vụ. Theo Ngân hàng Thế giới, tại Indonesia, 55% người nghèo trong bất cứ năm nào, đều có khả năng sống trên mức nghèo khổ của năm trước.

Một số chuyên gia về phát triển kinh tế cho rằng, mạng lưới an sinh xã hội được cải thiện ở các nước như Brazil, đảm bảo số người thoát khỏi đói nghèo ngày càng tăng ít có khả năng bị tuột trở lại hơn. Nhưng những mạng lưới an sinh này có lỗ hổng lớn. Ở ndonesia chẳng hạn, chúng ta đã nhìn thấy vào năm 1998, trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính châu Á và ngay sau sự cai trị 34 năm của nhà độc tài Suharto kết thúc, đã đẩy hàng triệu trượt người rơi lại cảnh nghèo đói. Tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm gần đây đã đưa Indonesia tiến lên một cơ sở vững chắc hơn. Nhưng một phần lớn dân số dễ bị tổn thương vẫn còn. Trong năm 2010, có 111 triệu người (trong tổng số 240 triệu người dân Indonesia) vẫn sống dưới mức 2 Đôla/ ngày. Khoảng 125 triệu người sống trên mức 2 – 10 Đôla/ ngày… Hàng ngũ của giai cấp trung lưu mong manh hiện nay là quá lớn không thể không tính đến. Các cá nhân  của nhóm này đã trở thành một yếu tố quan trọng trong nội tại các nước đang phát triển.

Cuối cùng, chúng ta có thể thấy sự quan trọng của nhóm này về chính trị. Trong những nền dân chủ lớn như Ấn Độ hay Indonesia – cả hai đều đang ở giữa cuộc bầu cử mang tính bước ngoặt. Các cuộc thăm dò cho thấy cử tri bị hút về phía các ứng cử viên hứa hẹn quản trị tốt, thực hiện cải cách và một tương lai kinh tế tươi sáng hơn.

Trong khi ở Trung Quốc, các nhà lãnh đạo đang phải đối mặt với những thách thức hiện hữu của việc đảm bảo hạnh phúc – sự hài lòng của người dân… Gần đây chẳng hạn, chính quyền đang tập trung vào việc cung cấp nhà ở giá rẻ, giấy phép cư trú và cơ sở hạ tầng giao thông tốt hơn, phục vụ cho các công nhân di cư, một nhóm mà mặc dù họ đã được hưởng lợi từ sự bùng nổ tăng trưởng của Trung Quốc, nhưng cũng đã bị chèn ép bởi giá cả tiêu dùng tăng cao và khả năng tiếp cận các hệ thống giáo dục hoặc y tế công cộng.

Ông Basu vẫn lạc quan rằng: một cái gì đó gần với mô hình tăng trưởng, cuối cùng sẽ trở lại với thế giới các nước đang phát triển. Nhưng ông cũng cảnh giác: những rủi ro có thể tái gây cản trở các tiến bộ: kinh tế Trung Quốc chậm lại, các công nghệ mới như robot và máy in 3D, và tiền lương chiếm một phần giảm tổng sản phẩm trong nước.

“Thế giới đang rơi vào thấp điểm, một trong những biểu hiện đó có thể chưa hoàn toàn rõ nét. Tôi nghĩ rằng đó là một thời điểm rất quan trọng trong lịch sử kinh tế toàn cầu. Nhưng đó là một thời điểm rất kỳ lạ bởi vì những thách thức tiềm ẩn lớn nhất không phải là những thách thức dễ thấy nhất.” – ông Basu nói.

Quay về Việt Nam

Những người theo dõi kinh tế xã hội Việt Nam đều biết những con số thường được nêu, như:

  • Trong 20 năm qua, tỷ lệ nghèo chính thức ở Việt Nam đã giảm mạnh;
  • Trong cùng thời điểm, mức sống đã lên một cách đáng kể dừ không đồng đều;
  • Thu nhập bình quan ở Việt Nam đã vượt qua mức độ 1,000 đô cách đây mấy năm;
  • Tỷ lệ “cận nghèo” còn cao và tỷ lệ nghèo có thể cao hơn những con số chính thức.
  • Vì nhiều lý do, tỷ lệ số dân mà trong tình trạng dễ bị tổn thương vẫn rất lớn;
  • Nhà Nước Việt Nam có những chính sách an sinh xã hội đang được triển khai và dù đống một vai trò quan trọng cũng có những hạn chế nhất định.

Vậy, một trong những vấn đề lớn nhất mà Việt Nam phải đối mặt trong những thập kỷ tới chính là: làm gì và làm thế nào để giúp những người trong tình trạng nghèo nàn, dễ bị tổn thương, và thuộc nhóm ‘trung lưu mong manh” vươn lên giải cấp trung lưu một cách nhanh và bền vững.

Tất nhiên đó là một vấn đề rất vĩ mô.
Nhưng là một vấn đề không thể bỏ qua.

JL

 

 

Vạn Lý Trường Chinh cũng phải tránh sân Tennis

Trong câu chuyện đầy tranh cãi về đường Trường Chinh ở Hà Nội, chưa thấy ai đề cập những mỉa mai tôi thấy. Hay là quá hiển nhiên rồi? Đường Trường Chinh được mang tên của một nhà cách mạng Việt Nam (Ông Đặng Xuân Khu).  “Lên đường cách mạng” ông lấy cái tên Trường Chinh để tưởng nhớ đến cuộc Vạn lý Trường chinh của Trung Quốc; một chiến dịch nổi tiếng với mục tiêu là dành thắng lợi và công bằng cho nhân dân TQ.

Ai đều biết về lịch sử chính trị đếu biết đến Vạn lý Trường chinh vì nó đã trở thành một khuôn mẫu cho những phong trào XHCN ở khắp nơi, cũng như một thắng lợi lớn của phong trào XHCN mà những sinh viên như chính tôi đã tìm hiểu đến khi học về Đông Á.

Thật đáng mỉa mai, con đường có cái tên thật nhiều ý nghĩa cách mạng này cuối cùng lại phải đi cong theo yêu cầu của một công đồng biệt thự với nhiều khuôn mặt đã ngày xưa phục vụ trong quân đội nhân đân Việt Nam; nơi mà ngày xưa cũng đã đấu tranh cho một Việt Nam xã hội chủ nghĩa, công bằng v.v. Chuyển sang cơ chế thị trường những người vĩ đại trong phòng không đã tự tổ chức một “cải cách ruộng đất” riêng biệt (hay biệt thự) để dành một thắng lợi cuối cùng. Như thế, cuối cùng có những người công bằng hơn những người khác….vậy, có lễ cần một vạn lý mới và thẳng tới một Việt Nam minh bạch hơn.

Ông Trường Chinh được nhiều người biết đến như một nhân vật cấp cao đầy mâu thuẫn. Song, trong những năm gần đây chúng ta cũng mới biết vào cuối sự nghiệp chính trị của mình, chính là ông chứ không phải là ông Nguyễn Văn Linh đã nhận thấy được sự cần thiết phải chuyển sang Kinh tế thị trường, dù điều đó là hơi muộn màng.

Trường Chinh cũng không còn sống để chứng kiến cái mà chúng ta có thể tạm gọi là “cải cách ruộng đất lần thứ 2” mà đã tiếp diễn trong những năm sau ông mất.  Điều này cũng làm tôi băn khoăn không hiểu ông sẽ nghĩ gì khi được biết con đường mang tên mình bị uốn cong chỉ để tránh một khu biệt thự của các quan chức thời nay.

Liệu ông có đứng lên kêu gọi một cuộc vạn lý trường chính mới để đấu tranh cho minh bạch và một trật tự xã hội công bằng hay không? Thực ra, một xã hội minh bạch và công bằng sẽ không thể có từ trên xuống; phải có sự tham gia của mọi thành phần xã hội, một ý không xa những ý tưởng XHCN mà Trường Chinh đã ủng hộ.  Để đạt được minh bạch và công bằng xã hội, mọi thành phần phải có quyền tham gia và đóng góp ý kiến một cách bình đẳng. Đó là cái đồng chí Trường Chinh và những người sống kiểu biệt thự xưa và nay dường như chưa được thấy.

JL

Biển Đông Nam Á

Vừa phát hiện hôm nay tôi đã bị trích dẫn nhầm một cách to lớn!

Được phỏng vấn hôm qua với hãng Bloomberg cho một bài về/việc Hai chiến hạm của Hải quân Hoa Kỳ bắt đầu các cuộc thao dượt chung kéo dài 6 ngày với Hải quân Vìệt Nam, tôi có nhận xét, Bắc Kinh đang cố gắng áp đặt và kiểm soát “gần như là toàn bộ Biển Đông Nam Á”… Hôm nay lên mạng thấy nó được đăng áp đặt, kiểm soát “toàn bộ Đông Nam Á.”… Chắc chắn tôi đã lên danh sách đen của Bắc Kinh rồi!

Tôi đã cho hãng Bloomberg biết nhưng rất khó khi bài đã được đăng, phát hành rộng rãi rồi. Mặt khác, nó cũng không giúp gì mấy cho hàng Bloomberg, vốn đã và đang bị trừng phạt về những bài họ có đăng trước đây về sự tham nhũng quy mô lớn có liên quan đến giới lãnh đạo của TQ và cụ thể là Tập Cận Bình.

Rồi không sao, vì sau: Tôi “chẩn đoán” vấn đề xuất phát từ việc là trong cuộc phỏng vấn tôi có nói Biển Đông Nam Á (Southeast Asian Sea) như tôi luôn luôn gọi Biển Đông. Rõ ràng tên “Biển Hoa Nam” là không được rồi về ít nhất bốn mặt: (1) Chủ yếu là sản phẩm của thời đại thuộc địa hày thời đại đế quốc của TQ; (2) không phản ánh chủ quyền theo luật pháp quốc tế; (3) không đúng về mặt địa lý; (4) vừa dùng nó vừa “chính đáng hóa’ những chính sách và thái độ bất chính đáng của Bắc Kinh trên biển.

Trong một cuộc thảo luận điện thoại với một đại diện của hàng Bloomberg mới thực hiện cách đây 30 phút, họ có ý nếu sửa bài thành “Southeast Asia Sea” thì sẽ gây rối loạn, vì không có một biển có tên chính thức đó. “Nhưng,” tôi có trả lời, “đó đã chính là những từ tôi đã dùng.” Muốn trích dẫn phải chính xác chứ. Bây giờ tôi vẫn đang suy nghĩ nên hay không nên yêu cầu hãng Bloomberg sửa bài, làm cho nó đọc đúng những từ Biển Đông Nam Á.

Tạm thời chỉ trích bài, nói cho những nhà báo quốc tế rất rõ: Biển Đông Nam Á!

JL

Cập nhật: Tôi đã yêu cầu hãng Bloomberg sửa bài. Nói cho họ biết Biển Đông Nam Á là một sự gọi tên địa lý phi chính trị mà tôi và nhiều người khác đang thường dùng.

Cập nhật thứ hai: Họ đã sửa bài theo yêu cầu. Toàn Thắng! Nghĩa vụ tiếp theo: thực hiện thành công việc đổi tên biển một cách chính thức.