Sao Mỹ lại chiếu phim đó?

fẻgChia sẻ với các bạn Việt Nam vài bình luận về những chuyện ở Ferguson, Mỹ.

Đối với Hoa Kỳ, từ lâu “phim dờ ấy” (tức là ‘this same old bad movie’) đang được chiếu, chiếu nữa, chiếu mãi. Tất nhiên không phải là bộ phim mà là một thực tế được tái lập và duy trì liên tục qua hàng loạt thập kỷ mà đến nay hệ thống chính trị bị tập đoàn tư sản mua rồi chưa hề thực sự quan tâm đến. Hiện tượng những người nghèo (đặc biệt là người da đen) bị công an bán, nình sâu vào, không phải là chuyện về công an hay thực thi pháp luật. Nó xuất phát từ những sự mất công bằng trong những thế chế xã hội, chính trị, kinh tế của đất nước Mỹ… Vậy không bất ngờ, những nhà báo của Trung Quốc hiện giờ đang rất đông ở bên Mỹ, quay phim, gửi về nhà, chiều cho dân Tàu biết là ở nước họ, không có vấn đề gì hết.

Tôi thấy xấu hổ đới với nước mình không? Không. Tôi thấy xấu hổ vì nước mình là nước giàu nhất thế giới mà có một xã hôi mà trong đó nhiều người còn nghèo, chẳng được sống trong những điều kiện tốt, không có những cơ hội hứa hẹn. Tôi thấy xấu hổ về những hình ảnh trển mà phản ánh những điều kiện ở xã hội Mỹ hậu 11 tháng 9. Một xã hội mà có vừng công an địa phương đã quân sự hóa (vì những chính sách chống khủng bố vì lợi nhuận) trong khi mức sống của dân trong những địa phương lại giảm. Thật chán!

Đối với chuyện Ferguson, đó không phải là thất bại của dân chủ, đó là thất bại của dân chủ kiểu Mỹ và là thất bại của những chính sách xã hội kinh tế của nhà nước Mỹ từ những năm 1980, hay lau hơn nữa. Xin lỗi vì thực sự không có thời giờ để đi sâu vào.

Vấn đề ở Mỹ hay ở Việt Nam hay bất cứ nước nào không phải là dân chủ. Vấn đề là những thế lực và thế chế mà muốn phá hoại dân chủ, mà không quan tâm, không bảo vệ, và không thúc đầy các quyền lợi của người dân. Nếu điểm yếu của Việt Nam là những thế chế dân chủ đã chưa được phát triển tốt, thì vấn đề của Mỹ là những thế chế của dân chủ đã teo lại nếu không muốn nói là cũng đã chưa phát triển tốt. Một nền chính trị kinh tế tốt là một nền chính trị kinh tế mà tạo ra những điều kiện cho mọi người để sống trong những điều kiện tốt, có đủ cơ hội kinh tế xã hội. Những nước má có sự thực hiện tốt nhất trong những khía cạnh này là những nước dân chủ xã hội. Xã hội mỹ hay chứ. Nhưng, còn quá nhiều thiếu sót. Thế thôi.

JL

Share Button

Ngăn chặn gì?

Hôm nay tôi đã hơi buồn khi đọc tiêu đề: Thủ tướng: Phải ngăn chặn việc hình thành các tổ chức phản động mà đã chạy trên nhiều tờ báo của Việt Nam. Tôi đọc thấy quá chán.

Trong những tháng từ đầu năm đã có những lúc Ngài Thủ tướng đã làm cho tôi cũng như nhiều người khác khá ấn tượng. Thậm chí nghĩ là Ông cũng có thể là người cải cách to lớn. Rất tiếc, vào hôm này chúng ta lại có lý do để lo láng về những ý định của Ông. Tôi không loại trừ khả năng tôi đang nhầm. Nếu thế, thì xin lỗi Ông.

Song, trong một lúc lịch sử mà Việt Nam rất gần đoàn kết và cũng rất cần sự ửng hộ của quốc tế tôi xin đề nghị tuyên bố một cách có tính hăm dọa rất có thể không có ích lắm.

Vậy, xin đề nghị (một cách tính bạn) nên ngăn chặn việc ngăn chặn hình thành các tổ chức muốn Việt Nam có một tương lai hứa hẹn. OK, chẳng cần một người nước ngoài để khẳng định Việt Nam ‘phải làm gì.’ Song, khi Ngài TT tuyên bố ‘phải ngăn chặn phản động’ tôi rất lo về ý nghĩa của những gì ông đã nói về dân chủ.

Thay vi tuyên bố như thế, hãy có đủ dũng cảm và tầm nhìn để cho phép những người ôn hòa, yêu nước gốp phần vào sự phát triển của đất nước theo lương tâm của họ. Được không?

CẬP NHẬT: Theo một bạn online, bài gốc của TTXVN mà đã được một số tơ báo điện tử đăng lại đã không phẩn ánh đúng tinh thần của Thủ tướng. http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Thong-cao-bao-chi-ve-hoat-dong-cua-Thu-tuong-ngay-168/206378.vgp. Nếu đúng thì một lần nữa xin lỗi Ông (dù còn vài vấn đề ‘ta’ chưa đồng ý.)

Sau cùng, còn khó đánh giá ý nghĩa của ‘vụ’ này. Về cơ bản nên bảo vệ và thúc đẩy quyền của dân. Ủng hộ trật tự xã hội, không ủng hộ việc lấy cớ nào để chống lại cải cách.

JL

Share Button

Việt Nam Hậu 981

Có những thời điểm mà lịch sử chạy nhanh hơn bình thường. Chúng ta đang sống trong một thời điểm như thế. Trong thời gian từ đầu tháng 5 đến nay, Việt Nam đã có những thay đổi quan trọng trong nền chính trị của đất nước. Tôi thậm chí dám khẳng định rằng có khả năng Việt Nam đã bước vào giai đoạn chính trị có tính quyết định nhất kể từ năm 1975. Tất nhiên những biến chuyển tôi đang đề cập liên quan đến những hành động phi lí của Bắc Kinh trên biển và, cụ thể hơn, những tác động của nó đối với nền chính trị của Việt Nam, gồm cả chính trị nội bộ của đảng cầm quyền và xã hội Việt Nam.

Phải cười một chút khi viết những từ “tôi dám khẳng định có khả năng.” Viết thế để vừa nêu một cách mỉa mai những khó khăn mà chúng ta thường gặp trong việc phân tích chính trị ở Việt Nam và vừa nêu tình trạng đầy cơ hội nhưng không có gì chắc chắn của tình trạng đất nước đang đối phó hiện nay.

Đánh giá tác động của những sự kiện xoay quanh “vụ 981” và những kết quả của nó gặp hai trở ngại lớn, làm cho chúng ta khó có thể đánh giá tầm quan trọng hay ý nghĩa lịch sử của giải đoạn này. Lý do thứ nhất, chúng ta chẳng có khả năng để dự báo tương lai, như nhà bình luận Cao Huy Thuần đã tìm hiểu trong một bài đáng độc gần đây. Tình trạng còn biến chuyển nhanh và phức tạp. Tình trạng có quá nhiều “biến số,” gồm cả động thái của Bắc Kinh, những phát triển trong quan hệ Việt-Mỹ, Việt-Nhật, v.v., những biến chuyển và sự kiện trên biển, và những chuyển động chính trị ở Việt Nam cả trong lẫn ngoài bộ máy.

Lý do thứ hai chính là sự thiếu minh bạch (nếu không muốn nói là tính mờ đục) của nền chính trị cấp cao Việt Nam mà, đến nay, làm cho ai – trừ khoảng 0,00001 % người Việt Nam (cũng như tôi) – rất khó phân tích rõ tình trạng. Kể cả những nhà phân tích giỏi nhất vẫn phải dựa vào những suy đoán và những từ như “có thể”, “rất có thể”, “có khả năng”, “có thể tưởng tượng”, vân vân… Đối với giới nghiên cứu hay bình luận về chính trị ở Việt Nam, chẳng có ai tránh khỏi được trở ngại này.

Vậy, bất chấp những hạn chế trên, suy ngẫm về những biến chuyển, những thay đổi, và những gì mà chúng ta chưa biết được về Việt Nam hậu 981 vẫn có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những khả năng, cơ hội, và rủi ro đất nước đang đối diện. Cũng có thể góp phần một chút đến những thảo luân đang tiếp diễn ở Việt Nam. Ở đây, tôi sẽ đề cập một cách ngắn gọn đến vài lĩnh vực then chốt. Cuối cùng, tôi sẽ đặt ra một số câu hỏi mà “cũng có thể” (hihihi!) mang tính quyết định cho phương hướng của đất nước.

Chính trị nội bộ cấp cao

Hiện này người dân Việt Nam các cấp và mọi nơi đang rất muốn hiểu rõ về những quan điểm và những quyết định của 16 người có quyền nhất, tức là Bộ Chính Trị ĐCS Việt Nam. Muốn biết họ đã làm gì hay sẽ làm trong tương lai gần. Về việc này đã có nhiều bài phân tích các loại, từ những bài báo và blog của những nhà Bình Luận Việt Nam từ những bài của giới “học giả” và “chuyên gia” về Việt Nam. Chúng ta có thể kết luận gì?

Trên cơ sở những gì được biết, nghe, và suy đoán, tôi thấy Việt Nam hiện nay không chỉ là “sẵn sàng” mà là đang làm những bước đị có tính quyết định để đối phó với tình hình mới. Tôi suy đoán BTC đã hiện này còn sẵn sàng để kiện Bắc Kinh nếu không có một thay đổi lớn trong động thái của nó. Và tôi biết BTC đang nỗ lực để nâng cấp mạnh mẽ những mối quan hệ chiến lược mới với hai nước chủ chốt là Mỹ và Nhật. Tất nhiên còn qua sớm để biết những việc trên sẽ có nghĩa gì. Dù vậy, tôi cũng như nhiều người khác tin rằng đã và đang có một sự thay đổi rõ nét.

Về khả năng ‘giới bảo thủ’ chưa có muốn hay thay đổi hay chưa có đủ dũng cảm để thay đổi tôi cũng có vài suy nghĩ. Cơ bản nhất là chủ quyển của đất nước đang bị thắc thức trực tiếp. Thứ hai Việt Nam sẽ có nhiều lợi về nhiều mặt nếu có những thay đổi thế chế. Khác so với trước, gần như là không còn khả thi để giữ lập trường 4-16 một cách công khai. Người Việt Nam ở khắp nơi đang rất bức xúc. Họ muốn một quan hệ mới với Trung Quốc. Họ muốn minh bạch ngay lập tức về mọi việc từ 1990 đến nay.

Ngành và hành động ngoại giao

Lĩnh vực ngoại giao của Việt Nam đang có những thay đổi quan trọng. Ngoài hàng loạt nỗ lực để bàn với Bắc Kinh, đã có những lúc làm cho chúng ta thấy Việt Nam đang thay đổi. Thích hay không thích Nguyễn Tân Dũng, bài của Ông ở Manila có một tình thần mới. Thích hay không thích, rõ ràng Việt Nam đã và đang nâng cấp quan hệ với hai ba nước trong và ngoài khu vực: Philippines, Nhật, và “đế quốc” Mỹ.

Trong những tháng 5, 6, 7 có nhiều người nghi ngờ về sự chậm phát triển của mối quan hệ Việt-Mỹ. Còn ai vẫn nghĩ thế? Những suy đoán mãi về Việc Phạm Bình Minh đã hoãn lại chuyến đi, trong khi đó Ông Phạm Quang Nghị lại sang Mỹ có vể là không còn quan trọng lắm. Quan trọng là những thảo luận giữa ĐCSVN và Hoa Kỳ mạ đang xảy ra ngay vào những ngày nay là những thảo luận hứa hẹn nhất trong lịch sử của hai nhà nước.

Chúng ta có ly do để hy vọng sự phát triển của những mối quan hệ song phương sẽ tạo ra những cơ hội tốt cho Việt Nam để đề cập và giải quyết những vấn đề về thể chế mà đến nay vẫn cứ là rào cản ngăn chận con đường của Việt Nam tiến tới một vị trí mạnh hơn. Những thảo luận giữa Việt Nam và Mỹ, Việt Nam và Nhật, v.v… không phải là chỉ “có khả năng” để mang lại thay đổi, nó đang tác động sâu sắc đến toàn khu vực.

Về mặt quân sự

Chuyến đi sang Việt Nam của Tướng George Martin Đempsey, sĩ quan cấp cao nhất trong cả lực lượng vũ khí Mỹ và là Chủ tịch chỉ huy Tổng tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ là dấu hiệu mới nhất là những quan hệ quân sự giữa hai nước chứng tỏ đang có những biển đổi nhanh và sâu. Đối với động thái của phía Việt Nam, còn chưa rõ. Những mặt bề ngoài chưa chắc có ích gì trong việc nắm hiểu tình hình. Lấy ví dụ, sự miễn cưỡng của những đại tướng Việt Nam để nói mạnh hay nhảy một cách công khai vào một trận đương đầu với Bắc Kinh chưa chắc là khôn ngoan. Đồng ý, riêng về mặt quan hệ quốc tế Thượng Tướng Nguyễn Chị Vịnh là chuẩn hơn.

Trong những tháng tới, chúng ta sẽ thấy Mỹ xóa một số ràng buộc trong cấm vận vũ khí đối với Việt Nam (đọc bài tiếng Anh ở đây). Thực ra, việc toàn khu vực đang rơi vào một quá trình quân sự hóa là rất đáng buồn về nhiều mặt. Ít nhất nó phản ánh sự thực là niềm tin trong khư vực đã mất đi cực nhanh và hàm ý những số tiền khổng lổ sẽ bị trệch đi từ những mục đích phục vụ dân sự. Song, làm gì khi nước láng giềng có những động thái thực sự táo bạo bằng vũ lực như hiện nay?

Kinh tế

Trong lĩnh vực kinh tế, chúng ta thấy những nguy cơ và cơ hội rõ hơn. Có bạn nhận định, những hành vi và thái độ của Bắc Kinh đã bắt buộc giới lãnh đạo Việt Nam xem xét phương hướng lâu dài của nền kinh tế. Trong những tháng qua cho đến này, những nhà phân tích nhà kinh tế của Việt Nam (trong và ngoài nước) đang tìm hiểu những vấn đề này qua nhiều mặt. Cho đến nay, quan hệ kinh tế giữa hai nước đã mang lại cả những nguồn lợi quan trọng lẫn những chuyện không hay. Bên cạnh những nỗ lực để không cho phép những căng thẳng trên biển tắc động xấu đến quan hệ kinh tề, cần có và đang có những phương án cặn kẽ khác nhau để kịp đáp ứng cho mọi kịch bản.

Ở đây xin chia sẻ ba quá trình quan trọng mà đang tiếp diễn. Một, trong bối cảnh hiện nay, giới lãnh đạo Nhật Bản đang xem xét lại chiến lược kinh tế khu vực về mặt lâu dài. Mất an ninh, mất tự do đi lại trên những biển Đông Á và Đông Nam Á là một đe dọa cực lớn đối với cả nước Nhật, Hàn Quốc, và Philippines và quá đó, và là một sự đe dọa mà Mỹ sẽ không thể nào bỏ qua. Đã đến lúc phải có những cải cách kinh tế thực tế. Cứ tiếp tục nói “đổi mới” là không đủ vào thời điểm lịch sử này.

 Xã hội dân sự và “Phạm vi công”

Một nhà nước dân chủ và văn minh là một nhà nước là hết sức nghiêm túc trong việc bảo vệ và thúc đẩy những quyền con người. Hiện nay là lúc đất nước Việt Nam sẽ phải bắt đầu phát triển một nhà nước như thế. Khác so với trước, có những khuyến khích mạnh để tập trung vào việc ấy. Quan trọng ở đây không chỉ là “chấp nhận” xã hội dân sự mà là bảo vệ và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nó, làm cho nó phát triển một cách đa dạng, phong phú, thành một sức mạnh của đất nước.

Nói thế có quá lạc quan? Cũng có thể và cũng có thể không. Những thái độ và hành động đàn áp còn chưa được xóa. Những tù nhân lương tâm còn chưa được thả. Mặt khác, trong những tháng vừa rồi sự phát triển của cái gọi là “phạm vi công” (public sphere) đã có những dấu hiệu hứa hẹn, từ những thư ngỏ của các Đảng viên kỳ cựu cho đến sự thành lập của Thời Báo Việt Nam. Trong những tuần tới chúng ta có thể chờ đợi xem những ai được thả nữa. Nếu không có ai thì …. thôi… lại phải… chờ xem.

Trên đường dân chủ hóa, trật tự xã hội là một yếu tố quan trọng. Trong một xã hội văn minh, một người như Trần Nhật Quang hay Đỗ Thị Minh Hạnh đều có quyền để bày tỏ quan điểm của họ một cách ổn hòa và cũng không có quyền để lạm dung quyền của bất cứ ai cả. Hành vi đàn áp là hành vi phong kiến và lỗi thời cần phải xoá bỏ. Hãy thay đổi một cách làm cho thế giới xem Việt Nam là một nước đang thay đổi, một nước nên thông cảm và ủng hộ.

Liệu có cách nào cho những thành viên của xã hội dân sự ở Việt Nam được tuyên bố một cách công khai những cam kết của họ để cho chính quyền biết, dù có những bất đồng cần phải bàn thảo, cùng quyết tâm giữa trật tự và tuyết đối bác bỏ mọi hành vi bạo động. Liệu có cách nào để Nhà nước tuyên bố sẽ có một cuộc đối mới thực sự trong việc bảo vệ và thúc đầy quyền con người? Như chính N. Mandela đã nói: Mọi sự có vẻ như bất khả cho đến khi nó xảy ra.

Kết luận

Trong những tháng qua đã có nhiều người ở khắp nơi, từ mọi thành phần nói hay cảm thấy xã hội của đất nước ‘phải thay đổi.’ Thực ra, Việt Nam hiện này chắc chắn là đang thay đổi; thay đổi để thích nghi với một môi trường chiến lược mới.

Đáng tiếc, cho đến nay, chúng ta còn quá hạn chế trong việc hiểu rõ về những thảo luận đang tiếp diễn ở những cấp cao nhất của nền chính trị đất nước. Trong khi đó, còn quá sớm để đánh giá tầm quan trọng của những thay đổi mà đã, đang, và sẽ tiếp diễn. Song, Việt Nam của hôm này là rất khác so với Việt Nam của đầu tháng 5. Tôi thậm chí dám khẳng định vào thời điểm lịch sử đặc biệt này, Việt Nam có những cơ hội tốt để xoay trục tới một tương lai thực sự độc lập, dân chủ, và tự do.

JL Hồng Kông

Share Button

Rủi ro khi bàn quan hệ Việt – Trung

Gần đây, có bạn giới thiệu một bài viết mới của Tiến sỹ Zachary Abuza có tựa đề “Việt Nam oằn dưới áp lực của Trung Quốc.” Bài của TS Abuza đưa ra những khẳng định rất lớn theo đúng tinh thần của tựa đề đó dựa vào một phân tích có vẻ có bằng chứng tin cậy.

Về nguyên tắc, tôi luôn luôn cố gắng coi trọng bất cứ phân tích nào có nội dung đáng để suy nghĩ. Tuy nhiên, cũng có khi tính chất suy đoán, thiếu cơ sở, giật gân của một bài lên mức quá đáng, thậm chí đến mức làm cho chúng ta giật mình và lo về ý định, bản chất của tác giả. Rất tiếc tôi thấy bài này là một trường hợp như vậy.

Dưới đây, tôi sẽ giải tích tại sao tôi thấy bài của Abuza, dù ban đầu là hấp dẫn về cách viết, cuối cùng là một bài thiếu trách nghiệm, thiếu chuyên nghiệp, không giúp người đọc hiểu tình trạng thực tế của Việt Nam và vì thế làm hại đối với cộng đồng toàn cầu.

Những yếu tố trong bài của TS Abuza mà ban đầu làm cho nó đáng đọc là giới thiệu một số nhận xét vừa phải, một số thông tin được tin trước khi giới thiệu những khẳng định choáng ngợp và những chi tiết viết một cách có vẻ là có thật. Nhưng, càng đọc càng thấy bài có nhiều vấn đề và đọc xong có nhiều cảm giác không hay và không vui.

Nói một cách ngắn gọn, bài viết nhầm lẫn những mặt bề ngoài với thực chất, nhầm lẫn thực tế và tiểu thuyết, và vẽ ra một bức tranh quá đen trắng trong khi thực tế tình hình hiện nay phức tạp hơn nhiều và rất có thể trái ngựơc với những câu chuyện tưởng tượng của tác giả. Nói thế, không có nghĩa là bài không có giá trị. Giá trị của nó là nêu những nguy cơ trong việc phân tích chính trị.

Nhầm lẫn bề ngoài với thực tế

Trước hết, hãy bắt đầu với bối cảnh chiến lược chung mà TS Abuza vẽ ra trong phần đầu bài. Dù có những yếu tố đáng đồng ý, tôi chưa chấp nhận một số nét phân tích của ông. Những sự bất đồng ở đây có lẽ không lớn lắm.

Chẳng hạn, khẳng định của TS Abuza rằng Hà Nội đã gần như “bất lực” trong việc chống lại động thái khiêu khích của Bắc Kinh tôi thấy là quá mạnh. Dù đồng ý Việt Nam đã chưa đủ hiệu quả trong việc đối phó với Bắc Kinh (và thậm chí chấp nhận nó một phần vì những bất đồng nội bộ). Nhận xét rằng những hành động của Trung Quốc chưa đến mức khiến ASEAN đoàn kết là một nhận xét có ít giá trị, vì chúng ta đều biết ASEAN sẽ chẳng bao giờ chống lại Trung Quốc một cách thống nhất.

Lập trường Bắc Kinh “có lẽ” đã “thành công” trong việc thuyết phục những nước có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông rằng Mỹ là đối tác không tin cậy rõ ràng là không có giá trị và, dù sao, là không có sức thuyết phục. (Philippines không tin Mỹ sao?) Dù không ít người thấy phản ứng của Mỹ về tranh chấp Biển Đông là quá nhẹ và không kịp thời, riêng tôi lại cho rằng cách tiếp cận của Mỹ đến nay là khá tốt, dù có một số điểm yếu.

Cuối cùng, nếu ông Abuza cho rằng “thiệt hại lớn nhất đối với Hà Nội là hành động của Trung Quốc đã phơi bày bất đồng lớn trong giới chóp bu Đảng Cộng Sản”, tôi lại thấy thiệt hại chính là nó buộc Bộ Chính trị phải tìm cách đối phó những bất đồng đó, thay đổi hay điều chỉnh phương hướng chiến lược của đất nước về nhiều mặt. Làm thế trong một bối cảnh mà có nhièu bất đồng là cực kỳ khó khăn. Nói cách khác, thiệt hại lớn nhất đối với Hà Nội, không phải là “phơi bày bất đồng lớn” mà là nâng cao áp lực để làm những bước phải làm mà rất khó làm đối với phương hướng của đất nước.

Về cuộc họp của Bộ Chính trị

Nếu những vấn đề nói trên được xem không lớn lắm thì những nội dung thú vị nhất và có vấn đền nhất là khi TS Abuza đề cập những quá trình nội bộ của Bộ Chính trị, đặc biệt những gì “đã xảy ra” sau khi phái viên Dương Khiết Trì của Trung Quốc đã về nước.

Tôi phải khẳng định ngay tôi không có tiếp cận được những thông tin về nội bộ của Bộ Chính Trị (dù có lần tôi đã xin một viên chức an ninh tạo điều kiện cho tôi quan sát những gặp gỡ của Bộ để tránh việc có những hiểu lầm về chính trị ở Việt Nam). Trong những đoạn này, TS Abuza đã miêu tả khá chi tiết về lập luận của hai phái. Một, theo ông, là gồm các ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng đã có quan điểm phải kiện Bắc Kinh, gần Mỹ, Nhật hơn, v.v. Trong khi phái kia có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và những người khác.

Tôi không rõ ai đưa thông tin cho Abuza và chẳng biết những khẳng định chi tiết của tiến sỹ có cơ sở nào. Nhưng về cơ bản, tôi không tin những cuộc họp này (tức ngay sau khi phái viên Trung Quốc rời Hà Nội) đã có tính quyết định trong hồ sơ Biển Đông. Cụ thể hơn, theo tôi được hiểu, đã có những cuộc họp trong thời gian đó, và đã có những kết quả khác hẳn so với khẳng định của Abuza. Hơn nữa, theo tôi hiểu (và tôi sẵn sàng thừa nhận tôi có thể sai), Bộ Chính trị vẫn chưa bàn toàn diện và chưa có quyết định rõ nét nào. Vì sai ở nhiều chỗ, vì chưa nắm bắt tình hình, quan điểm của tiến sỹ không thể tin.

Thực vậy, càng đọc những đoạn này càng cảm thấy gần đây (không biết bao lâu), tiến sỹ đã nói chuyện với ai đó và đã phát triển một sự hiểu biết mơ hồ về tình hình ngay sau Dương Khiết Trì của Trung Quốc về nước. Vào đầu tháng Sáu, theo tôi biết, chẳng có một quyết định nào, cũng như chẳng có một bên thắng cuộc và bên thua cuộc trong Bộ Chính trị. Khi TS Abuza viết rằng phái không chống lại Trung Quốc “có vẻ lý luận”, tôi thấy phân tích của TS Abuza không dựa vào bằng chứng cụ thể nào mà chỉ dựa vào tin đồn, thậm chí những tin đồn lỗi thời.

Viết cho rõ hơn, tôi không chấp nhận lý lẽ rằng phái bảo thủ đã bác bỏ đề nghị kiện Trung Quốc. Hơn nữa, khi TS Abuza xác định những ai đã ủng hộ phái này (từ Tô Huy Rứa, Lê Hồng Anh, v.v.), tôi đã rất lo lắng. Có lẽ kiểu “phân tích” này sẽ hấp dẫn với một số người nhưng tôi thì chưa tin. Tôi biết một người biết nhiều hơn mình (và chắc chắn biết hơn TS Abuza) lại có danh sách khác. Tôi cũng không thấy “phái muốn kiện” đang bị xem như những người ngây thơ về phản ứng của Trung Quốc.

Khác với Abuza, chúng ta chưa có bằng chứng rằng Bộ Chính trị đã thông qua một quyết định nào để giảm căng thẳng, hoặc, cụ thể hơn, đã không có một quyết định dài hạn nào. (Liệu đã có một thỏa hiệp bí mật giữa Hà Nội và Bắc Kinh về việc rút giàn khoan Hải dương 981 thì suy đoán mãi mà vẫn không thể biết).

Còn quá sớm

Nói chung, chuyện tranh chấp ở Biển Đông là một vấn đề cực lớn và còn quá sớm để khẳng định những tranh chấp sẽ phát triển ra sao. Có quá nhiều tác nhân cùng chuyển động một lúc.

Về việc Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đã không đi Washington mà chỉ có ông Phạm Quang Nghị đi, tôi thấy là đáng tiếc và thực sự phản ánh những đặc trưng kỳ lạ của nền chính trị Việt Nam. Song, tôi không nghĩ rằng chúng ta đã biết nhiều về nội dung sâu sắc của quan hệ Việt – Mỹ đến nay.

Đương nhiên chính phủ Mỹ rất (nếu không muốn nói là quá) cẩn thận trong hồ sơ Trung Quốc. Việc có những gặp gỡ “lặng lẽ” chưa chắc có nghĩa là những gặp gỡ này là chưa quan trọng. Việc có một phái viên tổng thống Mỹ sang Hà Nội, dù chưa phải là chuyến thăm ồn ào, vẫn cho thấy có một trao đổi ở cấp cao nhất giữa hai “chế độ.”

Về phần kết luận, khẳng định của TS Abuza rằng “đại đa số trong Bộ Chính trị không sẵn sàng chống lại Trung Quốc” cũng khó chấp nhận. Ông Abuza nêu bốn lý do như (1) những cái giá kinh tế phải trả là quá cao; (2) giả định Việt Nam sẽ thua trong mọi xung đột trên biển; (3) ai đó hy vọng là nếu Việt Nam hy sinh Hoàng Sa, thì Trung Quốc sẽ sẵn sàng hơn đàm phán về Trường Sa; và (4) sự xem trọng quan hệ giữa hai đảng trong mắt những nhân vật như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Riêng đối với khẳng định đáng lưu ý của Abuza rằng Việt Nam đã có một quyết định để giảm căng thẳng và “đại đa số người Việt Nam có thể chưa biết về quyết định” đó, tôi phản ứng như sau. Dù tôi không phủ nhận những căng thẳng đã giảm, chúng ta chẳng có cơ sở để khẳng định đã có một quyết định như TS Abuza đã hàm ý. Tôi không cho rằng đã có kết cục nào rõ ràng.

Đối với Hiệp định Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP), dù tôi ủng hộ cải cách kinh tế, tôi cũng khuyên Việt Nam phải cẩn thận với TPP. Quan trọng hơn tôi không tin TPP là phương cách duy nhất mà Việt Nam có thể dùng để phát triển những quan hệ toàn diện với Mỹ.

Cuối cùng, tôi không đồng ý với ý kiến nói những hội nghị trung ương sắp tới sẽ không thể ra những quyết định lớn vì, như một trong những người phát ngôn ‘hay nhất, hiệu quả nhất’ của Việt Nam, Tướng Nguyễn Chí Vịnh đã nói, nhiều cái phụ thuộc vào động thái của Bắc Kinh.

Kết luận

Nói chung, tôi thấy bài của Abuza là đáng đọc. Nhưng tính đáng đọc này không phải là vì bài viết này hay. Đáng đọc vì nó tái nhắc nhở chúng ta về những rủi ro trong việc phân tích chính trị.

Nhìn một cách tổng thể, tôi rất hồ nghi về phân tích trong bài trong khi cách viết (đầy những suy đoán quá đáng cho đến những thông tin sai lệch) là rất đáng tiếc. Còn quá sớm và viết một bài mà thiếu cơ sở như vậy là chẳng có ích trong việc tìm hiểu tình trạng thực tế.

Đáng tiếc nhất là tôi đã mất cả một buổi sáng để đề cập bài này trong khi tôi có những công việc quan trọng hơn nhiều, như viết bài về hệ thống giáo dục, y tế của Việt Nam và đi ăn trưa! Và mất công ‘đánh’ một người Mỹ về chuyện Việt Nam! ;)

Bài này vốn được đăng trên BBC tại đây.

Share Button

Những bước phải làm và lời khuyên cho Ông Tập

Bài này được đăng trên Báo Nhất Hoa Nam, số ngày 9 tháng 7, 2014 tiêu đề, Hanoi must meet the challenge of standing up to Beijing, theo link đây.

Hai tháng đã qua kể từ khi Bắc Kinh tăng cường độ nỗ lực thực thi những đòi hỏi bất chính đáng trên những khu vực rộng lớn của vùng biển Đông Nam Á. Kèm theo việc sắp đặt giàn khoan khổng lồ trong những vùng biển tranh chấp vi phạm rõ những chuẩn mực quốc tế, đã có nhũng hành động ngoại giao cưỡng bức, tuyên truyền nguỵ tạo ồn ào, cũng như những đe dọa và sử dụng bạo lực, chưa thấy điểm dừng. Thế giới đã thực sự có ấn tượng vì sự hung hăng và ngoan cố của Bắc Kinh.

Cho tới gần đây, hai quốc gia Đông Nam Á đang bị đe dọa nhất bởi những đòi hỏi chủ quyền quá mức của Bắc Kinh — Philippines và Việt Nam — đã theo những con đường khác nhau trong cách đối phó của họ với Bắc Kinh. Nay, trong lúc chủ quyền của Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng, Hà Nội ngày càng có khả năng cùng với Manila thách thức tính hợp pháp của những hành động và yêu sách của Bắc Kinh. Dù đối đầu với Bắc Kinh chắc chắn có những rủi ro của nó, nhưng đó là phản ứng hợp lý và cần thiết và, ít nhất, sẽ góp phần nêu rõ trong bình diện quốc tế tính bất chính đáng của những động thái của Bắc Kinh.

Đối với Việt Nam, những thách thức trong việc chống lại Bắc Kinh là đặc biệt ghê gớm. Cùng với quá trình quân sự hóa, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và vĩnh viễn là láng giềng. Vì thế đương nhiên Hà Nội mong muốn duy trì mối quan hệ tốt hay tốt tối thiểu với Bắc Kinh. Thực vậy, những cuộc bạo loạn đầu tháng Năm là rất khác thường; tận đến này vẫn chưa xác định được những nguyên nhân từ đâu.

Song, hành động của Bắc Kinh đã làm cho việc giữ những quan hệ thông thường trở nên bất khả thi, đẩy Việt Nam vào một cuộc tranh luận lớn về phương hướng và triển vọng chiến lược của đất nước.

Sau hai tháng phân hóa nội bội và đưa ra những thông điệp lẫn lộn, lãnh đạo Việt Nam giờ đây đã tỏ ra đoàn kết và cảnh báo rằng, trong khi Việt Nam kiên quyết theo đuổi hòa bình, người Việt Nam sẽ phải chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống xấu nhất.

Nhưng Việt Nam có thể theo đuổi những bước cụ thể nào? Nhà phân tích Vũ Quang Việt và tôi đã gợi ý như sau: Đầu tiên, Hà Nội nên tìm kiếm một phán quyết từ một trọng tài phân xử theo Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển thiết lập rằng không có bất cứ điều khoản tự nhiên nào trong tranh chấp lại bao gồm cả quyền sử dụng trên những khu vực đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa. Điều này có nghĩa là thậm chí trên những hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa hiện dưới quyền kiểm soát của Bắc Kinh cũng chỉ bảo gồm khu vực lãnh hải trong vòng 12 hải lý tính từ đường bờ biển.

Thứ hai, trong khi bắt tay vào sự kiện tụng của mình, Việt Nam nên tham gia vào kiện của Manila để chống lại Bắc Kinh, thách thức tính hợp pháp của đường ranh giới lãnh thổ chín đoạn vươn tới hầu hết vùng biển Đông Nam Á của Trung Quốc và tuyên bố của Bắc Kinh rằng một số nơi trên quần đảo Trường Sa là con người có thể ở lại được (habitable); Bắc Kinh hiện đang cố gắng thay đổi hiện thực này thông qua việc xây dựng những hòn đảo nhân tạo.

Thứ ba, Hà Nội nên ưu tiên giải quyết sớm những tranh chấp nổi bật với Philippines, Malaysia và Đài Loan, sử dụng ASEAN khi thích hợp và phát triển hơn nữa những quan hệ đối tác chiến lược đang nổi lên.

Tuy nhiên, những bước tiến hành theo định hướng này còn chưa đủ để đảm bảo một tương lai độc lập và thịnh vượng cho Việt Nam. Đó là lý do mà ngày càng nhiều người Việt Nam tin rằng cần phải có những hành động táo bạo hơn: rằng để tiến bộ hơn nữa, Việt Nam cần phải dũng cảm cải cách những thể chế cơ bản của đất nước. Họ cho rằng, chỉ với những cải cách như vậy, Việt Nam mới đạt được những mức hiệu suất kinh tế, đoàn kết dân tộc và hỗ trợ quốc tế cần thiết để đáp ứng được những thách thức của thời đại.

Về lâu dài, thách thức đối với Việt Nam và toàn thể khu vực là phải đảm bảo một khuôn khổ an ninh trong khu vực được thiết lập trên những chuẩn mực ràng buộc lẫn nhau và dựa trên những nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng và hợp tác. Đương nhiên, chúng ta cần hy vọng rằng Bắc Kinh sẽ áp dụng một cách tiếp cận mang tính xây dựng hơn. Thiếu những thay đổi đó, thì luận điệu “an ninh châu Á tốt nhất nên để cho người châu Á” là một lời lừa đảo mà thôi.

Trong phát biểu gần đây, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng tự nhận thấy rằng “quan niệm (một nước) có thể thống trị những quan hệ quốc tế đã thuộc về một kỷ nguyên khác” và rằng “những nỗ lực như thế tất sẽ thất bại.” Liệu ông Tập dám theo lời khuyên cho chính mình?

Jonathan D. London là giáo sư Khoa Nghiên cứu Quốc tế và châu Á, là thành viên chủ chốt của Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á của trường Đại học Thành thị Hồng Kông và tác giả cuốn Chính trị Việt Nam đương đại: Đảng, Nhà Nước và các Quan hệ quyền lực, nhà xuất bản Palgrave-MacMillan, 2014.

Share Button

Đi biểu tình phải có thông điệp rõ chứ

   

Cho đến nay tôi có nhiều bạn Việt Nam từ mọi phía và mọi quan điểm chính trị. Và ở đây tôi hoàn toàn không có ý định đi sâu vào nội dung của những sự bất đồng chính trị trong cộng đồng Việt Nam toàn cầu, kể ca trong và ngoài nước.

Chỉ muốn chia sẻ ý một nhận xét mà thôi: Việc trong những biểu tình vì Hoàng Sa, Trường Sa, và Biển Đông có những biểu trưng chính trị khác nhau (thậm chí ngược nhau ngay trong một cuộc biểu tình) theo tôi chẳng giúp thế giới hiểu gì về Việt Nam và rất có thể giảm mạnh hiệu qua của những nỗ lực để huy động sự ủng hộ của quốc tế.

Đối với những cuộc biểu tình, vấn đề “thông điệp” là hết sức cơ bản và quan trọng. Rõ rằng đến nay những biểu tình trong nước đã chưa thành công. Ở ngoài nước, tôi cũng lo hơn một chút. Từ những người phô bày những hình ảnh của Hồ Chí Minh tại Hồng Kông (nghĩ gì về HCM, Ông thực sự có liên quan gì không? Có giúp thế giới thương Việt Nam?) cho đến những bạn hát các bài của VNCH ỏ Mỹ (vâng, hát thì hát nhưng hát cho ai?), phải nhớ rằng, đối với những ai mà không phải là người Việt Nam, thì thấy hình ảnh của HCM hay cơ vàng họ sẽ nghĩ đến Cụ Ông KFC hay hàng ĐHL hơn là đọng thái bất chính đáng của Trung Quốc.

Vì thế, những sự chia rẽ và những thông điệp không rõ hay không liên quan theo tôi là một trở ngại cực lớn phải cố gắng khắc phục một cách nào đó.

Vậy, nhờ bạn xem hình ảnh ơ dưới. Dù ảnh này chưa được đẹp lắm, và chỉ có vài người, hình ảnh là hay ở chỗ là nội dung của nó là rõ, thống nhất, và thông điệp đang được gửi là cực rõ và liên quan trực tiếp đến vấn đề. Ai mà không mù chữ và sáng tạo một chút cũng có thể tạo ra nhũng cách để gửi những thông điệp rõ mà cần được gửi.

Good Vietnam protest pic

Như thế này hay hơn nhiều!

Nói thế tôi chẳng có ý nói xấu gì (dù thừa nhận cách viết trên cũng quá đáng một chút).Và đương nhiên chủ đề này còn rất phức tạp. Trên FB cũng có người nêu những vấn đề về lá cờ và những vấn đề trên đường xây dựng một trật tự xã hội dân chủ hơn ở Việt Nam.

Rõ ràng những bạn đang biểu tình vì đất nước đều rất là tâm huyết, dù biểu tình trong nước vẫn gặp những trở ngại. Vấn đề là ở chỗ cách làm, hoặc là những thông điệp đang gửi. Về toàn thể – tôi lo những thông điệp rất có thể là còn quá yếu, vì chưa rõ, vì chưa (đủ) thống nhất. Nói thế có đúng không? Và nếu có, xin hỏi: Có giải pháp cho vấn đề này không? Hay chỉ cứ làm mãi kiểu cũ của mình trong một lúc quyết định?

Trong trang FB của mình đã có tới 200 bình luận hay. Ở đây chỉ xin chia sẻ một trong những bình luận đó, là của bạn Bà Đầu Đinh mà đã phân tích như ở dưới. Xin chia sẻ toàn bài:

Hàn gắn sự chia rẽ Việt Nam

Jonathan London có nói đến sự chia rẽ hay bất đồng chính trị giữa những người Việt Nam. Chủ đề JL đưa ra thực sự là “nhạy cảm”. Vì nó đụng chạm đến những khía cạnh hận thù, rắc rối, gây chia sẽ, và cả những xung đột lợi ích nữa.

Lịch sử để lại. Cuộc chiến kéo dài mấy chục năm. Cuộc chiến đó là cuộc xung đột dai dẳng trên nhiều lĩnh vực. Xung đột về hệ tư tưởng (quốc gia, cộng sản). Xung đột của chiến tranh lạnh (sự can thiệp hay là xung đột giữa các nước lớn, giữa Mỹ và Nga Xô, Trung Cộng). Xung đột của những hận thù dân tộc.

Sự chia rẽ, và hận thù.

Những hận thù, tội ác bên này gây cho bên kia và ngược lại. Và chiến tranh càng kéo dài, hận thù càng chồng chất. Một bên sẽ kể về những cuộc cải cách ruộng đất, cải cách tư sản, cuộc di cư, trận chiến Mậu Thân…. Một bên sẽ kể về những cuộc thảm sát luật 10/59, nhà tù Phú Lợi, Côn Đảo, Phú Quốc, Mỹ Sơn…. Xung đột này xuất hiện ở mọi gia đình Việt Nam. Hầu hết các gia đình Việt Nam đều có người thân, anh em, họ hàng thuộc về cả 2 phía. Đó thật sự là một bi kịch. Bi kịch khủng khiếp giữa những người thân trong gia đình, dòng họ.

Với tất cả những “di sản” nặng nề này, người Việt Nam thật không dễ để rút chân ra khỏi vũng lầy của sự hận thù. Xung đột sắc tộc diễn ra ở khắp nơi trên thế giới. Mỗi nơi có những đặc thù riêng. Nhưng những vấn đề do lịch sử để lại luôn là những vũng bùn to lớn và nhầy nhụa. Thật khó mà rút chân ra.

Ngày xưa, khi người Pháp đến Việt Nam, họ đã chia Việt Nam thành 3 miền. Ngày đó, lịch sử đã gọi đó là “chia để trị”. Rồi, Mỹ cùng với Nga và Tàu lại tiếp bước Pháp, lại chia Việt Nam thành 2 miền. Cuộc chia cắt dai dẳng, kéo dài hàng trăm năm, cộng với chiến tranh tàn khốc. Người Việt, cho dù không coi nhau như những người khác nước (có lẽ khác với Triều Tiên – Hàn Quốc, Mông Cổ – Nội Mông, và có thể ở nhiều nơi khác nữa…) nhưng lại coi nhau như người ở 2 chiến tuyến.

Các nước lớn đã không thành công khi chia cắt đất nước, nhưng đã thành công khi chia rẽ lòng người Việt Nam. Trong khi những cuộc chiến sắc tộc trên thế giới cứ kéo dài vô tận, với hận thù vô tận, chồng chất, thì với người Việt, câu chuyện không phải là sắc tộc, nhưng cũng là hận thù và chia rẽ.

Bàn tay của các nước lớn.

Có người nói rằng Mỹ đã ném 2 quả bom nguyên tử xuống Nhật, hàng bao tấn bom xuống Việt Nam, đó là cái giấy nợ. Quả thực, nếu người Mỹ coi đó là cái “giấy nợ” thì người Mỹ cũng là đáng tôn trọng. Câu hỏi là vậy người Nga Xô, Trung Cộng có nghĩ đến cái “giấy nợ” của họ không? Nếu không có họ, chắc đã không có cuộc chiến đó. Điều đáng suy nghĩ là, bàn tay của những nước lớn vẫn đang tiếp tục thò vào câu chuyện của Việt Nam.

Hàng ngày, hàng giờ, câu chuyện Biển Đông đang có sự hiện diện của các nước lớn. Họ giúp làm dịu tình hình hay họ khoắng cho nó đục ngầu lên?! Và chính người Việt, từ các phía, đang bị lôi kéo vào những vụ “khoắng đục ngầu” lên.  Sự thực thì người Việt được lợi gì khi cứ bị cuốn theo những cuộc tranh giành của các nước lớn. Nếu người Việt không tỉnh ra, không biết tự chủ trong suy nghĩ của mình, cứ tiếp tục chạy theo những bàn tay lớn thì không biết đến bao giờ mới dừng cuộc tranh cãi giữa những người tự coi là cùng giòng giống.

Hệ tư tưởng

Mọi người nói nhiều đến hệ tư tưởng. Bên quốc gia, bên cộng sản. Cuộc chiến tư tưởng này chính là nguồn gốc gây chia rẽ. Cuộc chiến tư tưởng gây ra xung đột, và kết quả là gây ra hận thù. Nhưng, chúng ta thử suy nghĩ kỹ xem cái hệ tư tưởng này là cái gì? Cái hệ tư tưởng này liệu có khả năng cải thiện, thay đổi được không?

Thật ra, trước khi có cái hệ tư tưởng này thì người Việt chẳng có gì phải xung khắc với nhau cả. Bỗng một ngày vớ vẩn nào đó, bọn phương Tây nó đem cái hệ tư tưởng gây chia rẽ này đến Việt Nam và người Việt Nam ngây thơ, và mắc vào cái mớ bòng bong này. Tôi nói ra điều này chắc sẽ ăn đá của cả 2 bên. Cả bên Quốc lẫn bên Cộng sẽ bảo rằng tôi nói láo. Rằng tôi mất lập trường. Nhưng, xin mọi người hãy bình tĩnh. Xin hãy suy nghĩ kỹ rồi có ném đã sau cũng chưa muộn.

Vả lại, xin mọi người cho phép tôi có cái quyền được nói. Quyền có ý kiến trái chiều. Nếu người Việt vẫn còn bám víu vào những cái hệ tư tưởng từ đẩu từ đâu mang đến này để mà anh em, ruột thịt tiếp tục xông vào xung đột với nhau thì phỏng có ý nghĩa gì không? Ai được lợi từ những cuộc xung đột tư tưởng này? Người Mỹ, cùng với người Nga, và người Tàu mang những cái thứ xung đột tư tưởng này đến Việt Nam, rốt cuộc ai được hưởng lợi? Người Việt được gì? Người Việt tự xông vào xoi mói nhau thì được gì? Người Việt đã bị chia cắt quá lâu rồi. Nếu tiếp tục như thế này thì chia cắt đến bao giờ?

Nhiều người sẽ nói rằng nếu cứ tiếp tục tư tưởng CS thì không phát triển được đất nước. Có người sẽ nói rằng tư tưởng quốc gia của Ngụy ngày xưa thì chỉ làm hại đất nước. Nếu cứ tiếp tục xỉa xói nhau như thế thì giải quyết được gì? Trong một nhà cũng luôn có nhiều ý kiến khác nhau, trong xã hội luôn có những ý kiến trái chiều. Liệu chúng ta có thể học cách tôn trọng ý kiến, tư tưởng của các bên được không? Liệu có thể chấp nhận khác biệt tư tưởng để cùng bắt tay nhau không? Liệu có thể đừng mắng nhiếc tư tưởng của nhau hay không? Cái này có vẻ khó đây!!!

Kết nối từ tất cả các bên

Mọi người sẽ nói rằng lỗi là tại bên phía nhà nước CS còn phân biệt. Có người sẽ nói là những người hải ngoại vẫn cứ tiệp tục hận thù… Tất nhiên, muốn hòa giải thì phải có thiện chí. Không có thiện chí thì quả là khó. Nhưng có thiện chí vẫn chưa đủ. Cần phải chủ động hành động, vận động. Cuộc chia rẽ đã quá lâu, quá sâu sắc nên việc hàn gắn không hề dễ dàng. Nó đòi hỏi chủ động, và hành động, vận động quyết liệt.  Nếu cứ ngồi chờ phía nhà nước, hay ngồi chờ phía hải ngoại thì… chả biết đến bao giờ. Gần đây, đã có rất nhiều hoạt động, hành động nhằm hàn gắn, kết nối. Chắc chắn trong tương lai gần tình hình sẽ cải thiện lên nhiều.

BĐĐ HN, 8/7/14

Xin thêm vào đó một ý tưởng kết thức. Trong quá trình đấu tranh, một trong những việc quan trọng nhất Việt Nam phải làm (dù vẫn còn là một điểm yếu) là việc gửi những thông điệp cực rõ cho toàHCM supportn thế giới. Ngoài những biểu tình cũng cần có những nỗ lực khác nữa. Chẳng hạn, không ít người cho rằng Việt Nam phải tập trung đầu tư cho một nỗ lực lớn trong việc này. Như một bạn đã chia sẻ,việc đó rất có thể quan trọng hơn là chỉ đâu tư chạy đua mua vũ khí quốc phong mà thôi.

Vậy, dù qua những biểu tình hay những phương điện khác, Việt Nam phải gửi những thông điệp rõ mạnh và hiệu quả. Rồi, xem các bạn nghĩ sao và làm gì.

JL, Hồng Kông

 

Share Button

Khảo sát GCI mà xếp hàng Việt Nam gần chót đóng góp gì cho nhân loại? (Và một số vấn đề liên quan)

Tối hôm qua tôi cùng với vài người khác đã được đài BBC Tiếng Việt mời tham gia một ban tròn với chủ đề “Việt Nam đóng góp gì cho nhân loại?” Ban đầu chương trình có ý định tìm hiểu câu hỏi này trong 3 lĩnh vực lơn: khoa học, văn hóa, và bảo vệ môi trường. Việc có thảo luận này xuất phát từ những tranh cãi xoai quanh kết quả của một khảo sát quốc tế mang tên “The Good Country Index” (GCI) mà đã xếp hàng Việt Nam gần chót: thứ 124 trên 125 nước!!!

Như đã được BBC nêu, khảo sát GCI “đánh giá đóng góp của 125 nước” (mà có thông tin đầy đủ) dựa trên bảy tiêu chí về thành tích như khoa học công nghệ, văn hóa, hòa bình và an ninh quốc tế, trật tự thế giới, khí hậu, thịnh vượng, bình đẳng, sức khỏe…” theo số liệu thông kê thu thập từ các khảo sát quốc tế khác nhau. Vậy, GCI là một khảo sát hợp lại.

Nói chung, chúng ta nên luôn luôn có một thái độ hoài nghi đối với những khảo sát như này, chính vì họ gần như là luôn luôn dựa vào những thông tin mỏng manh hay quá phức tạp, dẫn đến những quan điểm hết sức nông cạn, không tin cậy, thậm chí nguy hiểm.

Ngoài những vấn đề về chất lượng số liệu và ý nghĩa, có vấn đề về những tiểu chuẩn được lựa chọn tìm hiểu, vấn để “sự so sánh được” (comparability) qua các nước. Hơn nữa, có những hạn chế về quan điểm riêng của (bias/hướng) của những tổ chức và cá nhân mà thiết kế, tài trợ, thực hiện, phân tích, và trình bầy kết quả. Như một bạn người Việt Nam của tôi đã chia sẻ: những “khảo sát thường cho thấy nhiều vấn đề của người khảo sát hơn cả các vấn đề của đôi tượng khảo sát.” Đúng thế!

Tóm lại những khảo sát như này, liệu tìm hiểu về bất kể vấn đề nào thường có những vấn đề sâu về mọi mặt và nhất là tính có thể sáng tỏ được – cái bằng tiếng Anh gọi là interpretability. (Phải nói một số điều tra, khảo sát ‘khoa học xã hội’ ở Việt Nam cũng có những vấn đề này, nhất những cái mà được thực hiện một cách dở, như chỉ phát 30 phần trăm số phiếu và, thôi, về nhà đi!)

Trong trường hợp của GCI tôi thấy rõ tất cả những hạn chế ở phía trên. Hơn nữa tôi thấy riêng khảo sát này có nguy cơ làm lộn xộn “giá trị” của một nước với việc đóng góp cho thế giới. Tóm lại, về nhiều mặt khảo sát này, dù có thể có ý định tốt, là rất vớ vẩn.

Vậy, làm sao dành thời gian đề cập khảo sát này? Đó là một câu hỏi rất tốt!!! (Vì có quá nhiều vấn đề cần lo, từ việc đón con cho đến Biển Đông! Thực vậy, một trong những hậu quả xấu nhất của những khảo sát như này là những người bình luận như tôi mất rất nhiều thời gian và công sức! “Rõ ràng tôi quá nghiện (tức quá mê) Việt Nam rồi!

Vậy, với tình thần vừa phải (tức không nghiêm túc quá), cần chia sẻ một số bình luận cả hài hước lẫn nghiêm chỉnh để sáng tỏ những kết quả của khảo sát riêng đối với Việt Nam. Sau đó tôi sẽ kết thúc với một số nhận xét mà cố gắng liên kết thảo luận về GCI đối với sự phát triển của đất nước nói trên và vấn đề Trung Quốc nói riêng.

Trong khảo sát, GCI có thu số liệu đối với ba mươi lăm (35) chỉ số qua bảy (7) lĩnh vực khác nhau đã nêu ở trên. Ở dưới này xin đề cập mốt số chỉ số mà đã làm cho vị trí của Việt Nam xuống thấp và phân tích một cách rất nhanh và chung “theo quan điểm tự sinh của tôi” ( theo quan điểm của riêng tôi).

Chỉ số 1: Số sinh viên nước ngoài đang học ở Việt Nam. Và trong số đó họ có thích học các môn như môn triết về chủ nghĩa Mác – Lê Nin? Bình Luận (BL): Có bất ngờ đâu. Có ai muốn sang Việt Nam để học CN Lenin hoặc những môn bị kiểm duyệt nặng vậy không?

Chỉ số 2: Xuất khẩu những tập chí khoa học, tờ báo v.v. BL: Vậy, Việt Nam muốn lên bằng phải bất đầu dịch và xuất khẩu các báo An Ninh Thế GiớiNhân Dân, và Xây Dựng Đảng càng nhanh càng tốt. Tốt hơn nữa, nên cải cách bào chí và giáo dục để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các ngành đó và cả nước.

Chỉ số 3: Số bài nghiên cứu được xuất bản trong những tập chí khoa học quốc tế. BL:” Đơn giản là hậu quả của một hệ thống nghiên cứu mà quá nhiều khi đặt đường lối trên khoa học” ( Đơn giản là hậu quả của một hệ thống nghiên cứu đã quá chú trọng theo lý thuyết khoa học mà không dựa trên thực tiễn) ; một xu hướng mà dù có chức năng của nó đã bị lỗi thời.

Chỉ số 5: “Số lần xin patent” (Số lần xin bằng phát minh sáng chế)  BL: Phản ánh sự phát triển chậm của cái gọi là “năng lực sáng tạo quốc gia” (national innovative capacity), chủ yếu vì giáo dục đại học, hệ thống khoa học đã bị bỏ qua vài thập kỳ vì điều kiện và ý tưởng chưa chuẩn của Nhà Nước và kể cả Ngân Hàng thế giới tại Việt Nam. Tình hình đã thay đổi nhưng sự phát triển của ngành đại học vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của đất nước. Cần một tầm nhìn mới. Trong khi đó, hãy patent (xin cấp bằng sang chế) điếu cầy và thuốc lào đi! Toàn thế giới sẽ mê Việt Nam luôn!

Chỉ số 9: Số nước các công dân của đất nước được miễn thị thực. BL: Một phần là hậu quả của những điều kiện lịch sử và đương đại của đất nước. Vấn đề này có thể giải quyết cực nhanh (tức trong vong 20 năm) nếu cải cách như Hàn Quốc.

Chỉ số 10: Tự do báo chí. BL Một trong những hạn chế lớn nhất của đất nước Việt Nam.

Chỉ số 11: Số người lính được gửi các nước để giữ hòa bình cho LHQ. BL: Số này đang gia tăng và sẽ gia tăng vơi sự tham gia đang mở rộng của Việt Nam trong LHQ.

Chỉ số 15: Về An Ninh Internet. BL: Không BL gì, chỉ gửi lời Xin tới các bạn Dư luận viên!

Chỉ số 16: Tỷ lệ dân số đóng góp tự nguyện cho xã hội. BL Nếu tính cả các kinh phí xã hội hóa thì Viẹt Nam sẽ vô địch. Nói thật, người Việt Nam đóng góp “nhiều lắm rồi” (rất nhiều) nhưng phần lớn là không chính thức. Những khảo sát chỉ hỏi về chính thức tức là gần như là vô nghĩa.

Chỉ số 17 và 18: Số người tỵ nạn quốc tế được nhận và số người tỵ nạn quốc tế ở hải ngoại. BL Vì những lý do lich sử và thể chế Việt Nam đã ‘chuyên’ về xuất khẩu tỵ nạn hơn là nhập khẩu tỵ nạn.

Chỉ số 20: Số Hiệp Định được ký (chỉ số này là để hiểu về động thái của ngoại giao v/v giải quyết các xung đột một cách hoa bình: BL: Nếu trước đây đã không cần hiệp định nào (không dám nói đến HĐ Pari!) vì đã có 4 tốt, 16 chữ vàng. Hiện nay hình như Việt Nam có thể năng cao chỉ số này qua việc ký Hiệp Định với Philippine, Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ Đế Quốc. Đến nay, các Đồng Chí ở phía bắc hay Nga vẫn chưa thích hiệp định vì thực hiện luật rừng không cần giáy tờ nào.

Chỉ số 23, 24, 25: Ỗ nghiễm môi trường. BL: Ngoài vấn đề ô nghiễm âm thanh do loa phường gây ra, không cần BL, chỉ ra nhà vài phút mà thôi hay ăn Vedan hay một số thực phẩm, không cần cụ thể hóa. Gần đây tôi rất lo khi nghe nói ở một số tỉnh Bình Định còn có những công ty đang nhập khẩu những loại thuốc trừ sâu mà đã bị cả Trung Quốc đã bỏ rồi, và bị bỏ ở các nước phương tây hơn 30 năm gì đó chỉ vì” tiền đô còn đâu tiên” (tiền đô là vấn đề đầu tiên).

Chỉ số 26: Thương mại qua biên giới: BL: Nếu tính được hàng lậu chỉ số của Việt Nam sẽ tăng vọt. Mặt khác, những “đồng chí tốt” ở ngoài bắc tiếp tục xâm lược thì chỉ số này có thể thay đổi những cách thứ vị

Chỉ số 31: Số tấn thực phẩm được gửi sang nước ngòai (bằng tấn lúa mỳ). BL: Ở Việt Nam “chẳng trong” (không trồng) lúa mỳ; hãy tập trung vào số lượng gạo hay mì tôm. Nói thật, nên đầu từ vài tỷ đô xem có ai làm phở bò Hà Nội hay Hủ Tiêu Saigòn chuẩn trong một hộp ngon bằng mì tôm Hàn Quốc?

Thực ra, những bình luận trên còn chỗ thiếu tính xây dựng và hy vọng tất cả bạn Việt Nam đồng ý hay không đồng ý với tất cả những ý tưởng của tôi cũng có thể cười và suy ngẫm. Thực vậy, dù những khảo sát như GCI và chính GCI là vớ vẩn và đáng tiếc (đặc biệt đối với sự hiểu biết về Việt Nam ở ngoài Việt Nam) thì ít nhất là một cơ hội để suy ngẫm. (Dạo này tôi suy ngẫm rất nhiều về suy thóai của nền dân chủ của Mỹ, nhưng cũng là cơ hội để học nó, tìm hiểu nó, và đấu tranh).

Theo tôi, đóng góp của Việt Nam không chỉ là lớn hơn đã được phản ánh trong GCI mà là sẽ mạnh hơn nhiều trong những năm tới nếu Việt Nam khắc phục những hạn chế thể chế và chuyển sang những thể chế minh bạch và dân chủ hơn. Dù tôi rất e ngại khi Ông TBT nói “có khả năng ta phải chờ tới cuối thế kỳ này CNXH Việt Nam mới được hoàn thiện”, tôi cũng có thể đồng ý, cón quá sớm để biết những đóng góp của Việt Nam sẽ thế nào.

Đọc kết quả khảo sát của GCI tôi như nhiều người Việt Nam khác thấy rất buồn tiếc và giật mình vì nhiều lý do khác nhau. Song, GCI cũng là một cơ hội tốt để suy ngẫm không chỉ về sự thiếu hiểu biết về Việt Nam của thế giới bên ngoài mà về những trở ngại của đất nước.

Tôi chưa hài lòng lắm với bài này. Nhưng dù sao cũng phản ánh phần nào tình trạng của Việt Nam lúc bấy giờ. Chúng ta có thể bàn mãi về những vấn đề nay. Như đã hàm ý trên, tôi không thích và không tin cậy những khảo sát kiểu này và tháy học thực sự là một sự làm hại. Tức là khảo sát về đóng góp này chẳng đóng góp gì lớn cho thế giới.

(Xin hỏi, nước đảo Ireland là số 1 trong khảo sát vì xuất khảo dước phẩm nhiều nhất và vì có khối lượng thương mại qua biển cực lớn nhưng ở phía sau phải biết cách đây 20 năm chính quyền ở nước đó đã áp dụng những chính sách quá đáng: Mời hàng luật công ty nước ngoài vào một chế độ mà không đống thuế nào, thành một thiên đường neo-liberal, và dù có tăng trưởng kinh tế lớn cùng lúc đã phá hoại mực sống của người dân nước đó. Là đóng góp cho ai đây?)

Là một người quan tâm đến Việt Nam, tôi biết Việt Nam là một nước rất tốt rồi, dù là một nước còn một số hạn chế về thể chế cần và nên khắc phục. Như đã nói tối hôm qua, vaì trò chủ yếu của nhà nước nào ở bất cứ nước nào là để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhân dân. Vậy, tôi vẫn cho rằng nếu Việt Nam cải cách sâu rộng một cách kịp thời và toàn diện, sự phát triển của đất nước sẽ đi nhanh hơn nhiều và toàn thế giới sẽ chẳng cần những khảo sát để thấy Việt Nam là một good country (tức đất nước tốt).

Ngoài ra, nếu Việt Nam có thể giúp thế giới một phần đề cập vấn đề chủ nghĩa bành trướng và phát triển một khuôn khổ vùng bên vững sẽ là một đóng góp vo cùng lớn.

Ai có quan tâm có thể xem toàn chương trình của BBC tại đây, dài nửa tiếng.

Tạm biệt
JL, Hồng Kông

—-
Cho mọi người biết, tháng vừa rồi tôi đã đi công tác và vì thế đã tạm nghỉ việc blog.

 

Share Button

Phỏng vấn về tình hình Biển Đông

Hôm qua được RFA phỏng vấn cho một bài mang tên “Lãnh đạo VN kêu gọi chuẩn bị mọi tình huống cho tranh chấp Biển Đông” do Trà Mi thực hiện. Đọc toàn bài ở đây và nghe bài và hai phỏng vấn (Phạm Chí Dũng và tôi) ở dưới. Đoạn của tôi bất đầu từ phút 07:00.

Một phần cũng có trong video ở dưới, nhưng phần nhỏ thôi. Nghe hay đọc bài hay hơn.

JL

Share Button

Vài giải pháp cho Việt Nam

china's attacks, fishing vessesl, east sea, hoang sa

Viet Nam News

Những hỗn loạn và bạo lực bùng nổ ở Việt Nam cách đây hai tuần đã hút sự quan tâm của thế giới khỏi các nguyên nhân căn bản của căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam, và thật ra là giữa Trung Quốc và khu vực. Về bản chất, chúng xuất phát từ yêu sách vô căn cứ pháp lý của Bắc Kinh, đòi chủ quyền đối với hơn 80% biển của khu vực, và từ ý đồ của Bắc Kinh nhằm áp đặt tính chính đáng cho các yêu sách đó thông qua các biện pháp vũ lực.

Trên bình diện quốc tế, việc Bắc Kinh cho quân đội canh giữ giàn khoan dầu khổng lồ của họ trong vùng biển tranh chấp được hiểu là một hoạt động mang tính chính trị, nhằm thay đổi hiện trạng ở Đông Á. Còn đối với Việt Nam, hành động của Bắc Kinh buộc giới lãnh đạo Việt Nam phải suy nghĩ lại một cách cơ bản về tầm nhìn chiến lược của họ – một công việc vừa nguy hiểm vừa mang lại cơ hội. Hiện tại, lãnh đạo Việt Nam đối mặt với ba thách thức.

Thách thức thứ nhất là dọn dẹp và tái thiết, để giải quyết và vượt qua những hậu quả còn tồn đọng của các cuộc bạo loạn hai tuần trước. Rất cần phải nhấn mạnh rằng nguyên nhân chính xác của vụ hỗn loạn vẫn chưa được xác định, và trên thực tế, nguyên nhân đó có vẻ khác nhau tùy theo ba nơi xảy ra biến cố. Cũng cần phải lưu ý rằng bạo loạn xảy ra ở ba tỉnh chứ không phải 21, như nhiều nơi đã đưa tin sai. Chết chóc, thương tật, và thiệt hại như xảy ra đã không có lợi chút nào cho hình ảnh Việt Nam. Và những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm gia tăng áp lực, thông qua các biện pháp chính trị, kinh tế và quân sự, cũng vậy.

Liên quan đến các vụ bạo loạn, khó khăn lớn nhất của Hà Nội là mở rộng điều tra và đưa ra được một cách giải thích rõ ràng về nguyên nhân gây bạo loạn, tiến hành bồi thường nhanh chóng, và bằng mọi cách cần thiết, thể hiện cho toàn thế giới thấy tại Việt Nam vẫn sẽ là một môi trường đầu tư hấp dẫn. Người ta có thể hy vọng là những việc làm cụ thể theo hướng này đang được tiến hành.

Căn bản hơn, người dân Việt Nam đang đối diện với những quyết định về tương lai của đất nước. Trên thực tế, có hai nhóm câu hỏi khác nhau nhưng có liên quan đến nhau. Thứ nhất là nhóm các câu hỏi về những chiến thuật mà Việt Nam nên sử dụng để đáp lại lối hành xử của Bắc Kinh. Thứ hai là nhóm các câu hỏi về tầm nhìn chiến lược xa hơn của Việt Nam, các mối quan hệ và các điều kiện mà nước này cần để có thể sống trong hòa bình, thịnh vượng, và an ninh trong những năm tới và thập kỷ tới.

Việc Hà Nội phản ứng với Bắc Kinh một cách thận trọng và thăm dò là điều có thể thấy trước, khi mà sức mạnh của hai bên không cân xứng và thực tế là Việt Nam hiện tại không có đồng minh. Có quá ít lựa chọn, lãnh đạo Việt Nam cho thấy – ngày càng rõ ràng hơn – rằng họ không chấp nhận các yêu sách của Trung Quốc, và họ sẽ phản ứng chỉ bằng các biện pháp ngoại giao và pháp lý. Mặc dù mọi nước đều có quyền tự vệ, nhưng Việt Nam đã đúng khi nhấn mạnh yêu cầu phải tránh đối đầu quân sự. Quân sự hóa xung đột sẽ chỉ gây ra thất bại.

Nếu không có một đột phá về mặt ngoại giao thì theo quan điểm của chúng tôi, Hà Nội nên tiến hành ba bước sau đây:

1. Trước tiên, Hà Nội nên đề nghị Tòa án Quốc tế về UNCLOS ra một phán quyết rằng mọi cấu trúc tự nhiên trên biển Hoa Nam đều là đá và như vậy thì chỉ được hưởng 12 hải lý lãnh hải. Trong trường hợp đó, phần biển còn lại trong khu vực (trừ các vùng đặc quyền kinh tế – EEZ – của các nước) sẽ đều có quy chế của biển quốc tế. Yêu sách của Bắc Kinh, cho rằng quần đảo Paracel [tức là Hoàng Sa trong tiếng Việt] (mà họ chiếm đóng trái phép) xứng đáng có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý chắc chắn sẽ bị tuyên vô hiệu lực. Điều đó có nghĩa là, các đảo thuộc quần đảo Paracel mà hiện tại đang bị Bắc Kinh kiểm soát sẽ đều chỉ có lãnh hải 12 hải lý, và việc triển khai giàn khoan dầu tuần trước và tuần này sẽ là bất hợp pháp.

2. Thứ hai, Việt Nam nên tham gia vụ kiện của Philippines, kiện đường 9 đoạn, dựa trên căn cứ rằng không thể có vùng nước lịch sử nào cả, trừ phi đó là một cái vịnh; mọi yêu sách về chủ quyền trên biển đều phải đặt cơ sở trên đất.

3. Thứ ba, Hà Nội nên xem xét hủy bỏ tất cả các yêu sách đối với những cấu trúc đá nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và Malaysia, và ngồi vào bàn đàm phán, thỏa thuận với các quốc gia ASEAN khác cũng có yêu sách chủ quyền, để công nhận chủ quyền đối với những cấu trúc đá mà hiện tại các nước đó đang nắm giữ. Căng thẳng trên biển Hoa Nam chưa hề có dấu hiệu giảm bớt. Hà Nội và Manila có thể hiện ra rằng họ muốn hữu nghị với Trung Quốc đặt trên cơ sở tôn trọng, hợp tác, tuân thủ các điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế. Hà Nội và Manila nên đi trước để làm gương, và nên ngay lập tức giải quyết tranh chấp giữa chính họ với nhau, đồng thời tìm cách kết nối với Malaysia, Indonesia và các đối tác khác.

Quay trở lại với chuyện tương lai của Việt Nam. Việc căng thẳng gia tăng trên Biển Đông của Việt Nam đã gây ra một loạt diễn biến, buộc Hà Nội và thật ra là toàn thể người dân Việt Nam phải đánh giá lại tầm nhìn chiến lược của nước mình. Rất nhiều người ở Việt Nam tin rằng cách bảo vệ đất nước tốt nhất là thoát Trung, bằng cách tiến hành những cải cách thể chế “thay đổi cục diện” – vốn dĩ cần thiết để giành được sự ủng hộ của khu vực và quốc tế. Những cải cách đó bao gồm cả cam kết thực thi nhà nước pháp quyền, thực thi các sửa đổi hiến pháp căn bản, và làm cho Việt Nam phù hợp một cách nhanh chóng và thực chất với các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền mà chính Nhà nước Việt Nam đã cam kết.

Mặc dù các bước đi táo bạo đó có thể bị nhiều người cho là bất khả thi về chính trị, hay nói đơn giản là không thể thực hiện được, nhưng các bạn hãy dành một phút để nhớ lại rằng, Việt Nam hiện đang đối đầu Trung Hoa một cách cô độc. Tuy Việt Nam vẫn phải theo đuổi quan hệ hữu nghị với Trung Quốc, nhưng họ chỉ có thể sống trong an toàn, an ninh, được thế giới tôn trọng và ủng hộ, mà điều đó chỉ có thể có được nếu các lãnh đạo và nhân dân của họ xây dựng một tương lai trong đó Việt Nam được độc lập, tự do, và có một trật tự xã hội dân chủ hơn, minh bạch hơn. Cũng giống như với Myanmar, thế giới có thể ủng hộ Việt Nam ngay lập tức.

Điều mà Trung Quốc, Việt Nam, và toàn thể khu vực cần là năng lực lãnh đạo tốt hơn và có trách nhiệm hơn. Từ Đông Bắc Á cho đến Đông Nam Á, các nhà lãnh đạo của Đông Á phải phối hợp thúc đẩy hòa bình và trật tự trong khu vực trên cơ sở hợp tác thay vì hăm dọa.

Giới lãnh đạo chính trị Trung Hoa đã liên tục nói về sự “trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc. Nhưng chỉ có chính họ phải chịu trách nhiệm về việc Trung Quốc nhanh chóng bị các nước láng giềng trong khu vực căm ghét và làm cho Mỹ cũng như các siêu cường khác trên thế giới lo ngại. Nếu muốn có hòa bình và trật tự ở châu Á Thái Bình Dương, Bắc Kinh phải áp dụng các chuẩn mực quốc tế, phải từ bỏ đường 9 đoạn vô căn cứ pháp lý, và phải bắt đầu công việc đàm phán, thương lượng một cách chính trực hơn. Khi đó và chỉ khi đó, Trung Quốc mới giành được sự tin tưởng và tôn trọng của khu vực và thế giới.

Người viết: Jonathan Đ. London và Vũ Quang Việt

Share Button

Trả lời phỏng vấn Người Việt Online: “Vụ khoan dầu khiến Việt Nam đi trên lộ trình mới”

Xin chia sẻ với các bạn một bài trả lời phỏng vấn đã được đăng trên Người Việt Online. Phỏng vấn đã được thực hiện ở Hà Nội, thứ 7 vừa qua.

GS Jonathan London: “Vụ khoan dầu khiến Việt Nam đi trên lộ trình mới”
Wednesday, May 28, 2014 9:10:31 PM

Hà Giang/Người Việt

LTS: Tiến sĩ Giáo sư Jonathan D. London, giáo sư tại Phân Khoa Nghiên cứu Á Châu Á và Quốc Tế và là thành viên chủ chốt của Trung Tâm Nghiên Cứu Ðông Nam Á tại Ðại Học Hồng Kông, nói với nhật báo Người Việt, trong một cuộc phỏng vấn gần đây, rằng cuộc khủng hoảng tạo ra do việc Trung Quốc mang giàn khoan dầu HD-981 vào lãnh hải Việt Nam, đã khiến Việt Nam đi trên một lộ trình mới về mối quan hệ với Trung Quốc. Cuộc phỏng vấn do Hà Giang thực hiện qua điện thoại hôm 25 Tháng Năm, trong lúc ông đang ở Hà Nội.

 

Tàu hải cảnh của Trung quốc đâm thẳng vào tàu Cảnh sát biển của Việt Nam ở gần khu vực dàn khoan HD 981. (Hình: Tuổi Trẻ)


Hà Giang (NV): Người Việt khắp nơi trên thế giới đang theo dõi cuộc việc Trung Quốc mang giàn khoan dầu vào lãnh hải Việt Nam rất chặt chẽ, và có những bình luận khác nhau. Người cho rằng Trung Quốc cuối cùng đã hoàn toàn xâm chiếm Việt Nam. Người khác hy vọng rằng cuộc khủng hoảng này sẽ mang lại một sự thay đổi khiến Việt Nam thoát được vòng kiềm tỏa của Trung Quốc, và người lại nghĩ rằng Trung Quốc sẽ rút giàn khoan dầu của họ vào tháng Tám, và cuối cùng tình hình Việt Nam lại đâu cũng vào đấy. Ông nghĩ là cuộc khủng hoảng này sẽ đưa đến kết cục thế nào?

Giáo Sư Jonathan London: Tôi nghĩ rằng kết cục sẽ là không có kết cục gì hết trong khoảng thời gian tới. Tình hình sẽ tiếp tục căng thẳng và rất khó dự đoán tương lai. Tuy nhiên đã có nhiều biến chuyển, và điều hấp dẫn nhất về tình hình hiện nay là nó đưa đến nhiều kết quả bất ngờ. Bất kể nhận định việc mang giàn khoan dầu vào lãnh hải Việt Nam của Bắc Kinh có khôn ngoan hay không, không thể thay đổi thực tại là những gì họ làm đã gây ra một phản ứng dây chuyền, đẩy tình thế đến nhiều hướng rất bất ngờ, và có thể nói là ngoài tầm kiểm soát. Ðây là một thời điểm đầy biến động, và tôi nghĩ rằng dựa vào những lời tuyên bố của Bắc Kinh, ngoại trừ có những giải pháp ngoại giao đột biến, Việt Nam có thể sẽ có những thay đổi lớn.

NV: Có phải giáo sư đang nói rằng giả sử đến ngày 15 Tháng Tám, Trung Quốc mang giàn khoan đi, và không có biến chuyển gì mới, Việt Nam vẫn đang ở đi trên một lộ trình khác nhiều so với ba tháng trước đó?

Giáo Sư Jonathan London: Vâng, tôi tin như thế. Tôi tin rằng một số quy trình mà kết quả không lường được đã bắt đầu tại Việt Nam một cách nghiêm túc, và giai điệu của các cuộc thảo luận chính trị ở Việt Nam hiện nay thực sự là chưa từng có. Người ta có thể hình dung rằng sau một số bước đột phá bất ngờ trên mặt trận ngoại giao, mọi thứ sẽ lắng xuống khá nhanh chóng và mọi việc sẽ trở về nguyên trạng, nhưng tôi nghĩ rằng tình hình Việt Nam sẽ rất khác. Tôi cũng nghĩ rằng nếu những căng thẳng hiện giờ không suy giảm, thì xác suất có những thay đổi lớn về quan điểm chiến lược cũng như chính sách của Việt Nam gần như là điều chắc chắn.

NV: Giáo sư đã gặp gỡ và thảo luận với nhiều bạn bè ở Hà Nội, tâm trạng của người ở đó bây giờ ra sao?

Giáo Sư Jonathan London: Tôi phải nói là tâm trạng của người Hà Nội đã thay đổi thực sự đáng kể chỉ trong một vài ngày, và phần lớn sự thay đổi đó liên quan đến những lời phát biểu được người dân Việt Nam tiếp nhận một cách nồng nhiệt của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Tình thế tích cực ở chỗ có thể nó buộc Việt Nam phải suy nghĩ kỹ một chính sách khác với lộ trình Việt Nam vẫn đang theo đuổi từ trước đến nay, và một điều rất hiển nhiên là Việt Nam cần có nhiều bạn bè.

Việt Nam hiện không có bạn bè và đồng minh thân thiết và rõ ràng là cần phải có quan hệ tốt với Trung Quốc và hy vọng sẽ tiếp tục có quan hệ tốt với nước này. Ngay cả giữa những sự căng thẳng và đe dọa là sẽ có xung đột quân sự, về lâu về dài, Việt Nam tuyệt đối cần phải tìm cách để sống bên cạnh người láng giềng Trung Quốc, như Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng từng nêu ra rằng mối quan hệ giữa hai nước phải đặt trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau chứ không phải là sự bắt nạt. Cách duy nhất để có thể có được quan hệ này, là Việt Nam phải đứng vững được hơn trên đôi chân của mình, phải tạo được quan hệ tốt hơn, sâu sắc hơn với nhiều quốc gia. Nói tóm lại, Việt Nam sẽ cần phải cởi mở hơn, một thay đổi mà cách mà các nhà lãnh đạo Việt Nam từ trước đến giờ có khuynh hướng cưỡng lại. Nhiều người có nhận định rằng các tương quan giữa các thế lực chính trị tại Việt Nam đang thay đổi một cách rất nhanh chóng và thú vị.

NV: Ngay trong lúc Việt Nam đang tỏ dấu hiệu muốn có quan hệ sâu sắc hơn với Hoa Kỳ, trong một cuộc họp tại Malaysia, ông Nguyễn Tấn Dũng lập lại chính sách “ba không” của Việt Nam, trong đó có chính sách không liên minh quân sự với bất cứ nước nào. Ông có thấy đây là một chủ trương mâu thuẫn?

Giáo Sư Jonathan London: Không, tôi nghĩ rằng đó là một điều khôn ngoan. Bởi vì Trung Quốc là một cường quốc đang lên và là một sức mạnh bá chủ tiềm năng, còn Mỹ thì là lực lượng duy nhất có thể kiềm chế được họ, nên nếu Việt Nam tuyên bố đang phát triển một liên minh quân sự với Mỹ, thì tôi ngờ rằng Trung Quốc sẽ xem đó là một động tác thù nghịch, và có thể Bắc Kinh sẽ có những phản ứng không lường được. Ở tại một khu vực mà từ nhiều thập kỷ nay không có chiến tranh, không sẵn sàng cho những xung đột quân sự, vì thế cần phải có những vùng đệm, ví dụ giữa Trung Quốc và Mỹ hay giữa Trung Quốc và các cường quốc khác trong khu vực. Tôi nghĩ rằng Việt Nam vẫn có thể có bạn bè, vẫn có thể có đồng minh, và vẫn có thể có phản ứng ngoại giao được thế giới ủng hộ cho những hành xử trái với tiêu chuẩn quốc tế của Trung Quốc. Tôi hiểu lập luận của giới chỉ trích rằng Việt Nam quá mềm yếu, nhưng tôi nghĩ lập luận này không đúng. Tôi nghĩ rằng điều quan trọng là cần phải có tầm nhìn xa, và phải tận dụng mọi phương tiện cần thiết để giải quyết tranh chấp mà không dẫn đến chiến tranh tại Ðông Nam Á. Dĩ nhiên, nếu tình hình xấu đi, và thực sự có chiến tranh, thì tình thế sẽ khác, nhưng tôi nghĩ rằng hiện giờ những gì Việt Nam đang làm là đúng.

NV: Nếu Việt Nam không liên minh quân sự với nước nào, thì nếu Trung Quốc xem đó như là một nhược điểm và quyết định tấn công, thì ai sẽ là người trợ giúp Việt Nam?

Giáo Sư Jonathan London: Liên minh quân sự là một chuyện, hợp tác quân sự lại là một chuyện khác. Dù Washington từng háo hức nói rằng họ muốn mở rộng quan hệ (với Việt Nam), vào thời điểm này, mối quan hệ giữa hai bên còn lỏng lẻo. Tôi cho rằng có nhiều cách để phát triển các mối quan hệ an ninh và (Việt Nam) có thể sử dụng thuật ngữ này thay vì cụm từ “liên minh quân sự.” Có nhiều cách để phát triển các mối quan hệ an ninh để đạt được hiệu quả tốt cho những thách thức mà Việt Nam đang phải đối diện. Tình thế hết sức phức tạp, tôi khó có thể hình dung Mỹ có thể đẩy Trung Quốc ra một bên hay đánh bật họ tại thời điểm này. Chúng ta đang ở trong một tình hình rất nhạy cảm. Thủ tướng Việt Nam đã nói rằng Việt Nam đã trải qua quá nhiều chiến tranh rồi, tôi nghĩ rằng thế giới sẽ đồng ý với điều đó, và như vậy, dù tình hình có thể thay đổi, ngay lúc này, cần phải tính từng bước một. Có nhiều cách để phát triển một mối quan hệ an ninh mà không cần thông báo là đang thiết lập một liên minh quân sự, chẳng hạn.

NV: Ông James Hardy, biên tập viên về khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của tạp chí quốc phòng IHS Jane’s Defence Weekly cho rằng “quan hệ Mỹ-Việt Nam đã được cải thiện dần trong những năm gần đây đến độ việc bỏ cấm vận vũ khí có thể xẩy ra.” Ông có đồng ý với nhận định này không?

Giáo Sư Jonathan London: Có những hạn chế nhất quán về quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam liên quan đến tình hình nhân quyền, và mỗi khi đề cập đến việc này thì phải đối mặt với một rào cản. Vì vậy, có rất nhiều điều Việt Nam cần phải làm ngay lập tức nếu thực sự muốn có bạn bè và đồng minh. Ðể được quốc tế tôn trọng, Việt Nam cần phải giải quyết những hạn chế về quan hệ với Mỹ và các nước dân chủ khác. Ðó là lý do tại sao nhiều người cho rằng có nhiều triển vọng cho Việt Nam, vì nếu Việt Nam bước trên một lộ trình khác, một lộ trình thực sự độc lập mà không phải là một đàn em của Trung Quốc, và giải quyết những vấn đề thể chế, bao gồm việc không giới hạn nhân quyền từ trước đến giờ cản trở nhiều mối quan hệ với các nước khác. Việt Nam có được phép mua công nghệ quân sự và những vũ khí sát thương hay không là điều có thể xảy ra, nhưng còn tùy.

NV: Về tranh chấp tại Biển Ðông, Hà Nội đang tính đến việc kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế, nhưng nước này từng tuyên bố là sẽ bất chấp phán quyết của tòa, ông nghĩ rằng Việt Nam có ích lợi gì không khi kiện Trung Quốc?

Giáo Sư Jonathan London: Nếu Bắc Kinh không thay đổi chính sách, đưa họ ra tòa quốc tế là một điều tốt, vả lại ngoài biện pháp đó Việt Nam còn có sự lựa chọn nào? Việt Nam có một hồ sơ pháp lý khá vững vàng, và tôi nghĩ rằng Việt Nam sẽ có lợi rất nhiều, nhất là song song với việc áp dụng những biện pháp khác như phát triển quan hệ tốt với những nước khác như tôi đã nói. Việt Nam sẽ thắng về mặt dư luận quốc tế nếu chứng minh được rằng mình đang bị xâm lược một cách bất công. Dù Bắc Kinh có chấp nhận hay không chấp nhận phán quyết của tòa, việc nộp đơn kiện vẫn có lợi, vì nó giúp Việt Nam tăng cường chính danh của việc tuyên bố chủ quyền của mình. Việt Nam cũng cần chuẩn bị tinh thần để chấp nhận phán xét của tòa án nếu tòa quyết định không có lợi cho Việt Nam. Ðiều thiết yếu là những tranh chấp này phải có một buổi điều trần công bằng, dưới luật tố tụng của quốc tế.

NV: Ông từng viết rằng tình hình căng thẳng hiện nay đòi hỏi lãnh đạo Việt Nam phải có những thay đổi đột phá để giải quyết những bế tắc chính trị hiện có. Theo ông, liệu tình thế này có thể đưa đến sự đột phá đó không?

Giáo Sư Jonathan London: Có lẽ. Tôi nghĩ rằng đã có một thay đổi cán cân quyền lực, và thay đổi đó là một trong những yếu tố quan trọng trong sự bế tắc, cụ thể là mối quan hệ với Trung Quốc đã chuyển đổi, đã có những quan điểm khác nhau từ căn bản. Tôi không biết ông Nguyễn Tấn Dũng đóng vai trò nào trong tương lai chính trị của Việt Nam, nhưng tại thời điểm này ông rõ ràng đã trở thành một lãnh đạo nổi bật nhất của đất nước, trong khi đó một số các nhà lãnh đạo khác phần lớn im lặng về các cuộc xung đột hiện nay với Trung Quốc. Việt Nam chỉ có thể có lợi trong việc lợi dụng tình huống này như một cơ hội để đạt được những cải cách mang tính đột phá mà mọi người dân Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới đã chờ đợi và khuyến khích. Cái cần phải có là can đảm chính trị.

NV: Cảm ơn ông đã dành thời giờ cho cuộc phỏng vấn.

Share Button