Những bước phải làm và lời khuyên cho Ông Tập

Bài này được đăng trên Báo Nhất Hoa Nam, số ngày 9 tháng 7, 2014 tiêu đề, Hanoi must meet the challenge of standing up to Beijing, theo link đây.

Hai tháng đã qua kể từ khi Bắc Kinh tăng cường độ nỗ lực thực thi những đòi hỏi bất chính đáng trên những khu vực rộng lớn của vùng biển Đông Nam Á. Kèm theo việc sắp đặt giàn khoan khổng lồ trong những vùng biển tranh chấp vi phạm rõ những chuẩn mực quốc tế, đã có nhũng hành động ngoại giao cưỡng bức, tuyên truyền nguỵ tạo ồn ào, cũng như những đe dọa và sử dụng bạo lực, chưa thấy điểm dừng. Thế giới đã thực sự có ấn tượng vì sự hung hăng và ngoan cố của Bắc Kinh.

Cho tới gần đây, hai quốc gia Đông Nam Á đang bị đe dọa nhất bởi những đòi hỏi chủ quyền quá mức của Bắc Kinh — Philippines và Việt Nam — đã theo những con đường khác nhau trong cách đối phó của họ với Bắc Kinh. Nay, trong lúc chủ quyền của Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng, Hà Nội ngày càng có khả năng cùng với Manila thách thức tính hợp pháp của những hành động và yêu sách của Bắc Kinh. Dù đối đầu với Bắc Kinh chắc chắn có những rủi ro của nó, nhưng đó là phản ứng hợp lý và cần thiết và, ít nhất, sẽ góp phần nêu rõ trong bình diện quốc tế tính bất chính đáng của những động thái của Bắc Kinh.

Đối với Việt Nam, những thách thức trong việc chống lại Bắc Kinh là đặc biệt ghê gớm. Cùng với quá trình quân sự hóa, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và vĩnh viễn là láng giềng. Vì thế đương nhiên Hà Nội mong muốn duy trì mối quan hệ tốt hay tốt tối thiểu với Bắc Kinh. Thực vậy, những cuộc bạo loạn đầu tháng Năm là rất khác thường; tận đến này vẫn chưa xác định được những nguyên nhân từ đâu.

Song, hành động của Bắc Kinh đã làm cho việc giữ những quan hệ thông thường trở nên bất khả thi, đẩy Việt Nam vào một cuộc tranh luận lớn về phương hướng và triển vọng chiến lược của đất nước.

Sau hai tháng phân hóa nội bội và đưa ra những thông điệp lẫn lộn, lãnh đạo Việt Nam giờ đây đã tỏ ra đoàn kết và cảnh báo rằng, trong khi Việt Nam kiên quyết theo đuổi hòa bình, người Việt Nam sẽ phải chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống xấu nhất.

Nhưng Việt Nam có thể theo đuổi những bước cụ thể nào? Nhà phân tích Vũ Quang Việt và tôi đã gợi ý như sau: Đầu tiên, Hà Nội nên tìm kiếm một phán quyết từ một trọng tài phân xử theo Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển thiết lập rằng không có bất cứ điều khoản tự nhiên nào trong tranh chấp lại bao gồm cả quyền sử dụng trên những khu vực đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa. Điều này có nghĩa là thậm chí trên những hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa hiện dưới quyền kiểm soát của Bắc Kinh cũng chỉ bảo gồm khu vực lãnh hải trong vòng 12 hải lý tính từ đường bờ biển.

Thứ hai, trong khi bắt tay vào sự kiện tụng của mình, Việt Nam nên tham gia vào kiện của Manila để chống lại Bắc Kinh, thách thức tính hợp pháp của đường ranh giới lãnh thổ chín đoạn vươn tới hầu hết vùng biển Đông Nam Á của Trung Quốc và tuyên bố của Bắc Kinh rằng một số nơi trên quần đảo Trường Sa là con người có thể ở lại được (habitable); Bắc Kinh hiện đang cố gắng thay đổi hiện thực này thông qua việc xây dựng những hòn đảo nhân tạo.

Thứ ba, Hà Nội nên ưu tiên giải quyết sớm những tranh chấp nổi bật với Philippines, Malaysia và Đài Loan, sử dụng ASEAN khi thích hợp và phát triển hơn nữa những quan hệ đối tác chiến lược đang nổi lên.

Tuy nhiên, những bước tiến hành theo định hướng này còn chưa đủ để đảm bảo một tương lai độc lập và thịnh vượng cho Việt Nam. Đó là lý do mà ngày càng nhiều người Việt Nam tin rằng cần phải có những hành động táo bạo hơn: rằng để tiến bộ hơn nữa, Việt Nam cần phải dũng cảm cải cách những thể chế cơ bản của đất nước. Họ cho rằng, chỉ với những cải cách như vậy, Việt Nam mới đạt được những mức hiệu suất kinh tế, đoàn kết dân tộc và hỗ trợ quốc tế cần thiết để đáp ứng được những thách thức của thời đại.

Về lâu dài, thách thức đối với Việt Nam và toàn thể khu vực là phải đảm bảo một khuôn khổ an ninh trong khu vực được thiết lập trên những chuẩn mực ràng buộc lẫn nhau và dựa trên những nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng và hợp tác. Đương nhiên, chúng ta cần hy vọng rằng Bắc Kinh sẽ áp dụng một cách tiếp cận mang tính xây dựng hơn. Thiếu những thay đổi đó, thì luận điệu “an ninh châu Á tốt nhất nên để cho người châu Á” là một lời lừa đảo mà thôi.

Trong phát biểu gần đây, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng tự nhận thấy rằng “quan niệm (một nước) có thể thống trị những quan hệ quốc tế đã thuộc về một kỷ nguyên khác” và rằng “những nỗ lực như thế tất sẽ thất bại.” Liệu ông Tập dám theo lời khuyên cho chính mình?

Jonathan D. London là giáo sư Khoa Nghiên cứu Quốc tế và châu Á, là thành viên chủ chốt của Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á của trường Đại học Thành thị Hồng Kông và tác giả cuốn Chính trị Việt Nam đương đại: Đảng, Nhà Nước và các Quan hệ quyền lực, nhà xuất bản Palgrave-MacMillan, 2014.

Share Button

Đi biểu tình phải có thông điệp rõ chứ

   

Cho đến nay tôi có nhiều bạn Việt Nam từ mọi phía và mọi quan điểm chính trị. Và ở đây tôi hoàn toàn không có ý định đi sâu vào nội dung của những sự bất đồng chính trị trong cộng đồng Việt Nam toàn cầu, kể ca trong và ngoài nước.

Chỉ muốn chia sẻ ý một nhận xét mà thôi: Việc trong những biểu tình vì Hoàng Sa, Trường Sa, và Biển Đông có những biểu trưng chính trị khác nhau (thậm chí ngược nhau ngay trong một cuộc biểu tình) theo tôi chẳng giúp thế giới hiểu gì về Việt Nam và rất có thể giảm mạnh hiệu qua của những nỗ lực để huy động sự ủng hộ của quốc tế.

Đối với những cuộc biểu tình, vấn đề “thông điệp” là hết sức cơ bản và quan trọng. Rõ rằng đến nay những biểu tình trong nước đã chưa thành công. Ở ngoài nước, tôi cũng lo hơn một chút. Từ những người phô bày những hình ảnh của Hồ Chí Minh tại Hồng Kông (nghĩ gì về HCM, Ông thực sự có liên quan gì không? Có giúp thế giới thương Việt Nam?) cho đến những bạn hát các bài của VNCH ỏ Mỹ (vâng, hát thì hát nhưng hát cho ai?), phải nhớ rằng, đối với những ai mà không phải là người Việt Nam, thì thấy hình ảnh của HCM hay cơ vàng họ sẽ nghĩ đến Cụ Ông KFC hay hàng ĐHL hơn là đọng thái bất chính đáng của Trung Quốc.

Vì thế, những sự chia rẽ và những thông điệp không rõ hay không liên quan theo tôi là một trở ngại cực lớn phải cố gắng khắc phục một cách nào đó.

Vậy, nhờ bạn xem hình ảnh ơ dưới. Dù ảnh này chưa được đẹp lắm, và chỉ có vài người, hình ảnh là hay ở chỗ là nội dung của nó là rõ, thống nhất, và thông điệp đang được gửi là cực rõ và liên quan trực tiếp đến vấn đề. Ai mà không mù chữ và sáng tạo một chút cũng có thể tạo ra nhũng cách để gửi những thông điệp rõ mà cần được gửi.

Good Vietnam protest pic

Như thế này hay hơn nhiều!

Nói thế tôi chẳng có ý nói xấu gì (dù thừa nhận cách viết trên cũng quá đáng một chút).Và đương nhiên chủ đề này còn rất phức tạp. Trên FB cũng có người nêu những vấn đề về lá cờ và những vấn đề trên đường xây dựng một trật tự xã hội dân chủ hơn ở Việt Nam.

Rõ ràng những bạn đang biểu tình vì đất nước đều rất là tâm huyết, dù biểu tình trong nước vẫn gặp những trở ngại. Vấn đề là ở chỗ cách làm, hoặc là những thông điệp đang gửi. Về toàn thể – tôi lo những thông điệp rất có thể là còn quá yếu, vì chưa rõ, vì chưa (đủ) thống nhất. Nói thế có đúng không? Và nếu có, xin hỏi: Có giải pháp cho vấn đề này không? Hay chỉ cứ làm mãi kiểu cũ của mình trong một lúc quyết định?

Trong trang FB của mình đã có tới 200 bình luận hay. Ở đây chỉ xin chia sẻ một trong những bình luận đó, là của bạn Bà Đầu Đinh mà đã phân tích như ở dưới. Xin chia sẻ toàn bài:

Hàn gắn sự chia rẽ Việt Nam

Jonathan London có nói đến sự chia rẽ hay bất đồng chính trị giữa những người Việt Nam. Chủ đề JL đưa ra thực sự là “nhạy cảm”. Vì nó đụng chạm đến những khía cạnh hận thù, rắc rối, gây chia sẽ, và cả những xung đột lợi ích nữa.

Lịch sử để lại. Cuộc chiến kéo dài mấy chục năm. Cuộc chiến đó là cuộc xung đột dai dẳng trên nhiều lĩnh vực. Xung đột về hệ tư tưởng (quốc gia, cộng sản). Xung đột của chiến tranh lạnh (sự can thiệp hay là xung đột giữa các nước lớn, giữa Mỹ và Nga Xô, Trung Cộng). Xung đột của những hận thù dân tộc.

Sự chia rẽ, và hận thù.

Những hận thù, tội ác bên này gây cho bên kia và ngược lại. Và chiến tranh càng kéo dài, hận thù càng chồng chất. Một bên sẽ kể về những cuộc cải cách ruộng đất, cải cách tư sản, cuộc di cư, trận chiến Mậu Thân…. Một bên sẽ kể về những cuộc thảm sát luật 10/59, nhà tù Phú Lợi, Côn Đảo, Phú Quốc, Mỹ Sơn…. Xung đột này xuất hiện ở mọi gia đình Việt Nam. Hầu hết các gia đình Việt Nam đều có người thân, anh em, họ hàng thuộc về cả 2 phía. Đó thật sự là một bi kịch. Bi kịch khủng khiếp giữa những người thân trong gia đình, dòng họ.

Với tất cả những “di sản” nặng nề này, người Việt Nam thật không dễ để rút chân ra khỏi vũng lầy của sự hận thù. Xung đột sắc tộc diễn ra ở khắp nơi trên thế giới. Mỗi nơi có những đặc thù riêng. Nhưng những vấn đề do lịch sử để lại luôn là những vũng bùn to lớn và nhầy nhụa. Thật khó mà rút chân ra.

Ngày xưa, khi người Pháp đến Việt Nam, họ đã chia Việt Nam thành 3 miền. Ngày đó, lịch sử đã gọi đó là “chia để trị”. Rồi, Mỹ cùng với Nga và Tàu lại tiếp bước Pháp, lại chia Việt Nam thành 2 miền. Cuộc chia cắt dai dẳng, kéo dài hàng trăm năm, cộng với chiến tranh tàn khốc. Người Việt, cho dù không coi nhau như những người khác nước (có lẽ khác với Triều Tiên – Hàn Quốc, Mông Cổ – Nội Mông, và có thể ở nhiều nơi khác nữa…) nhưng lại coi nhau như người ở 2 chiến tuyến.

Các nước lớn đã không thành công khi chia cắt đất nước, nhưng đã thành công khi chia rẽ lòng người Việt Nam. Trong khi những cuộc chiến sắc tộc trên thế giới cứ kéo dài vô tận, với hận thù vô tận, chồng chất, thì với người Việt, câu chuyện không phải là sắc tộc, nhưng cũng là hận thù và chia rẽ.

Bàn tay của các nước lớn.

Có người nói rằng Mỹ đã ném 2 quả bom nguyên tử xuống Nhật, hàng bao tấn bom xuống Việt Nam, đó là cái giấy nợ. Quả thực, nếu người Mỹ coi đó là cái “giấy nợ” thì người Mỹ cũng là đáng tôn trọng. Câu hỏi là vậy người Nga Xô, Trung Cộng có nghĩ đến cái “giấy nợ” của họ không? Nếu không có họ, chắc đã không có cuộc chiến đó. Điều đáng suy nghĩ là, bàn tay của những nước lớn vẫn đang tiếp tục thò vào câu chuyện của Việt Nam.

Hàng ngày, hàng giờ, câu chuyện Biển Đông đang có sự hiện diện của các nước lớn. Họ giúp làm dịu tình hình hay họ khoắng cho nó đục ngầu lên?! Và chính người Việt, từ các phía, đang bị lôi kéo vào những vụ “khoắng đục ngầu” lên.  Sự thực thì người Việt được lợi gì khi cứ bị cuốn theo những cuộc tranh giành của các nước lớn. Nếu người Việt không tỉnh ra, không biết tự chủ trong suy nghĩ của mình, cứ tiếp tục chạy theo những bàn tay lớn thì không biết đến bao giờ mới dừng cuộc tranh cãi giữa những người tự coi là cùng giòng giống.

Hệ tư tưởng

Mọi người nói nhiều đến hệ tư tưởng. Bên quốc gia, bên cộng sản. Cuộc chiến tư tưởng này chính là nguồn gốc gây chia rẽ. Cuộc chiến tư tưởng gây ra xung đột, và kết quả là gây ra hận thù. Nhưng, chúng ta thử suy nghĩ kỹ xem cái hệ tư tưởng này là cái gì? Cái hệ tư tưởng này liệu có khả năng cải thiện, thay đổi được không?

Thật ra, trước khi có cái hệ tư tưởng này thì người Việt chẳng có gì phải xung khắc với nhau cả. Bỗng một ngày vớ vẩn nào đó, bọn phương Tây nó đem cái hệ tư tưởng gây chia rẽ này đến Việt Nam và người Việt Nam ngây thơ, và mắc vào cái mớ bòng bong này. Tôi nói ra điều này chắc sẽ ăn đá của cả 2 bên. Cả bên Quốc lẫn bên Cộng sẽ bảo rằng tôi nói láo. Rằng tôi mất lập trường. Nhưng, xin mọi người hãy bình tĩnh. Xin hãy suy nghĩ kỹ rồi có ném đã sau cũng chưa muộn.

Vả lại, xin mọi người cho phép tôi có cái quyền được nói. Quyền có ý kiến trái chiều. Nếu người Việt vẫn còn bám víu vào những cái hệ tư tưởng từ đẩu từ đâu mang đến này để mà anh em, ruột thịt tiếp tục xông vào xung đột với nhau thì phỏng có ý nghĩa gì không? Ai được lợi từ những cuộc xung đột tư tưởng này? Người Mỹ, cùng với người Nga, và người Tàu mang những cái thứ xung đột tư tưởng này đến Việt Nam, rốt cuộc ai được hưởng lợi? Người Việt được gì? Người Việt tự xông vào xoi mói nhau thì được gì? Người Việt đã bị chia cắt quá lâu rồi. Nếu tiếp tục như thế này thì chia cắt đến bao giờ?

Nhiều người sẽ nói rằng nếu cứ tiếp tục tư tưởng CS thì không phát triển được đất nước. Có người sẽ nói rằng tư tưởng quốc gia của Ngụy ngày xưa thì chỉ làm hại đất nước. Nếu cứ tiếp tục xỉa xói nhau như thế thì giải quyết được gì? Trong một nhà cũng luôn có nhiều ý kiến khác nhau, trong xã hội luôn có những ý kiến trái chiều. Liệu chúng ta có thể học cách tôn trọng ý kiến, tư tưởng của các bên được không? Liệu có thể chấp nhận khác biệt tư tưởng để cùng bắt tay nhau không? Liệu có thể đừng mắng nhiếc tư tưởng của nhau hay không? Cái này có vẻ khó đây!!!

Kết nối từ tất cả các bên

Mọi người sẽ nói rằng lỗi là tại bên phía nhà nước CS còn phân biệt. Có người sẽ nói là những người hải ngoại vẫn cứ tiệp tục hận thù… Tất nhiên, muốn hòa giải thì phải có thiện chí. Không có thiện chí thì quả là khó. Nhưng có thiện chí vẫn chưa đủ. Cần phải chủ động hành động, vận động. Cuộc chia rẽ đã quá lâu, quá sâu sắc nên việc hàn gắn không hề dễ dàng. Nó đòi hỏi chủ động, và hành động, vận động quyết liệt.  Nếu cứ ngồi chờ phía nhà nước, hay ngồi chờ phía hải ngoại thì… chả biết đến bao giờ. Gần đây, đã có rất nhiều hoạt động, hành động nhằm hàn gắn, kết nối. Chắc chắn trong tương lai gần tình hình sẽ cải thiện lên nhiều.

BĐĐ HN, 8/7/14

Xin thêm vào đó một ý tưởng kết thức. Trong quá trình đấu tranh, một trong những việc quan trọng nhất Việt Nam phải làm (dù vẫn còn là một điểm yếu) là việc gửi những thông điệp cực rõ cho toàHCM supportn thế giới. Ngoài những biểu tình cũng cần có những nỗ lực khác nữa. Chẳng hạn, không ít người cho rằng Việt Nam phải tập trung đầu tư cho một nỗ lực lớn trong việc này. Như một bạn đã chia sẻ,việc đó rất có thể quan trọng hơn là chỉ đâu tư chạy đua mua vũ khí quốc phong mà thôi.

Vậy, dù qua những biểu tình hay những phương điện khác, Việt Nam phải gửi những thông điệp rõ mạnh và hiệu quả. Rồi, xem các bạn nghĩ sao và làm gì.

JL, Hồng Kông

 

Share Button

Khảo sát GCI mà xếp hàng Việt Nam gần chót đóng góp gì cho nhân loại? (Và một số vấn đề liên quan)

Tối hôm qua tôi cùng với vài người khác đã được đài BBC Tiếng Việt mời tham gia một ban tròn với chủ đề “Việt Nam đóng góp gì cho nhân loại?” Ban đầu chương trình có ý định tìm hiểu câu hỏi này trong 3 lĩnh vực lơn: khoa học, văn hóa, và bảo vệ môi trường. Việc có thảo luận này xuất phát từ những tranh cãi xoai quanh kết quả của một khảo sát quốc tế mang tên “The Good Country Index” (GCI) mà đã xếp hàng Việt Nam gần chót: thứ 124 trên 125 nước!!!

Như đã được BBC nêu, khảo sát GCI “đánh giá đóng góp của 125 nước” (mà có thông tin đầy đủ) dựa trên bảy tiêu chí về thành tích như khoa học công nghệ, văn hóa, hòa bình và an ninh quốc tế, trật tự thế giới, khí hậu, thịnh vượng, bình đẳng, sức khỏe…” theo số liệu thông kê thu thập từ các khảo sát quốc tế khác nhau. Vậy, GCI là một khảo sát hợp lại.

Nói chung, chúng ta nên luôn luôn có một thái độ hoài nghi đối với những khảo sát như này, chính vì họ gần như là luôn luôn dựa vào những thông tin mỏng manh hay quá phức tạp, dẫn đến những quan điểm hết sức nông cạn, không tin cậy, thậm chí nguy hiểm.

Ngoài những vấn đề về chất lượng số liệu và ý nghĩa, có vấn đề về những tiểu chuẩn được lựa chọn tìm hiểu, vấn để “sự so sánh được” (comparability) qua các nước. Hơn nữa, có những hạn chế về quan điểm riêng của (bias/hướng) của những tổ chức và cá nhân mà thiết kế, tài trợ, thực hiện, phân tích, và trình bầy kết quả. Như một bạn người Việt Nam của tôi đã chia sẻ: những “khảo sát thường cho thấy nhiều vấn đề của người khảo sát hơn cả các vấn đề của đôi tượng khảo sát.” Đúng thế!

Tóm lại những khảo sát như này, liệu tìm hiểu về bất kể vấn đề nào thường có những vấn đề sâu về mọi mặt và nhất là tính có thể sáng tỏ được – cái bằng tiếng Anh gọi là interpretability. (Phải nói một số điều tra, khảo sát ‘khoa học xã hội’ ở Việt Nam cũng có những vấn đề này, nhất những cái mà được thực hiện một cách dở, như chỉ phát 30 phần trăm số phiếu và, thôi, về nhà đi!)

Trong trường hợp của GCI tôi thấy rõ tất cả những hạn chế ở phía trên. Hơn nữa tôi thấy riêng khảo sát này có nguy cơ làm lộn xộn “giá trị” của một nước với việc đóng góp cho thế giới. Tóm lại, về nhiều mặt khảo sát này, dù có thể có ý định tốt, là rất vớ vẩn.

Vậy, làm sao dành thời gian đề cập khảo sát này? Đó là một câu hỏi rất tốt!!! (Vì có quá nhiều vấn đề cần lo, từ việc đón con cho đến Biển Đông! Thực vậy, một trong những hậu quả xấu nhất của những khảo sát như này là những người bình luận như tôi mất rất nhiều thời gian và công sức! “Rõ ràng tôi quá nghiện (tức quá mê) Việt Nam rồi!

Vậy, với tình thần vừa phải (tức không nghiêm túc quá), cần chia sẻ một số bình luận cả hài hước lẫn nghiêm chỉnh để sáng tỏ những kết quả của khảo sát riêng đối với Việt Nam. Sau đó tôi sẽ kết thúc với một số nhận xét mà cố gắng liên kết thảo luận về GCI đối với sự phát triển của đất nước nói trên và vấn đề Trung Quốc nói riêng.

Trong khảo sát, GCI có thu số liệu đối với ba mươi lăm (35) chỉ số qua bảy (7) lĩnh vực khác nhau đã nêu ở trên. Ở dưới này xin đề cập mốt số chỉ số mà đã làm cho vị trí của Việt Nam xuống thấp và phân tích một cách rất nhanh và chung “theo quan điểm tự sinh của tôi” ( theo quan điểm của riêng tôi).

Chỉ số 1: Số sinh viên nước ngoài đang học ở Việt Nam. Và trong số đó họ có thích học các môn như môn triết về chủ nghĩa Mác – Lê Nin? Bình Luận (BL): Có bất ngờ đâu. Có ai muốn sang Việt Nam để học CN Lenin hoặc những môn bị kiểm duyệt nặng vậy không?

Chỉ số 2: Xuất khẩu những tập chí khoa học, tờ báo v.v. BL: Vậy, Việt Nam muốn lên bằng phải bất đầu dịch và xuất khẩu các báo An Ninh Thế GiớiNhân Dân, và Xây Dựng Đảng càng nhanh càng tốt. Tốt hơn nữa, nên cải cách bào chí và giáo dục để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các ngành đó và cả nước.

Chỉ số 3: Số bài nghiên cứu được xuất bản trong những tập chí khoa học quốc tế. BL:” Đơn giản là hậu quả của một hệ thống nghiên cứu mà quá nhiều khi đặt đường lối trên khoa học” ( Đơn giản là hậu quả của một hệ thống nghiên cứu đã quá chú trọng theo lý thuyết khoa học mà không dựa trên thực tiễn) ; một xu hướng mà dù có chức năng của nó đã bị lỗi thời.

Chỉ số 5: “Số lần xin patent” (Số lần xin bằng phát minh sáng chế)  BL: Phản ánh sự phát triển chậm của cái gọi là “năng lực sáng tạo quốc gia” (national innovative capacity), chủ yếu vì giáo dục đại học, hệ thống khoa học đã bị bỏ qua vài thập kỳ vì điều kiện và ý tưởng chưa chuẩn của Nhà Nước và kể cả Ngân Hàng thế giới tại Việt Nam. Tình hình đã thay đổi nhưng sự phát triển của ngành đại học vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của đất nước. Cần một tầm nhìn mới. Trong khi đó, hãy patent (xin cấp bằng sang chế) điếu cầy và thuốc lào đi! Toàn thế giới sẽ mê Việt Nam luôn!

Chỉ số 9: Số nước các công dân của đất nước được miễn thị thực. BL: Một phần là hậu quả của những điều kiện lịch sử và đương đại của đất nước. Vấn đề này có thể giải quyết cực nhanh (tức trong vong 20 năm) nếu cải cách như Hàn Quốc.

Chỉ số 10: Tự do báo chí. BL Một trong những hạn chế lớn nhất của đất nước Việt Nam.

Chỉ số 11: Số người lính được gửi các nước để giữ hòa bình cho LHQ. BL: Số này đang gia tăng và sẽ gia tăng vơi sự tham gia đang mở rộng của Việt Nam trong LHQ.

Chỉ số 15: Về An Ninh Internet. BL: Không BL gì, chỉ gửi lời Xin tới các bạn Dư luận viên!

Chỉ số 16: Tỷ lệ dân số đóng góp tự nguyện cho xã hội. BL Nếu tính cả các kinh phí xã hội hóa thì Viẹt Nam sẽ vô địch. Nói thật, người Việt Nam đóng góp “nhiều lắm rồi” (rất nhiều) nhưng phần lớn là không chính thức. Những khảo sát chỉ hỏi về chính thức tức là gần như là vô nghĩa.

Chỉ số 17 và 18: Số người tỵ nạn quốc tế được nhận và số người tỵ nạn quốc tế ở hải ngoại. BL Vì những lý do lich sử và thể chế Việt Nam đã ‘chuyên’ về xuất khẩu tỵ nạn hơn là nhập khẩu tỵ nạn.

Chỉ số 20: Số Hiệp Định được ký (chỉ số này là để hiểu về động thái của ngoại giao v/v giải quyết các xung đột một cách hoa bình: BL: Nếu trước đây đã không cần hiệp định nào (không dám nói đến HĐ Pari!) vì đã có 4 tốt, 16 chữ vàng. Hiện nay hình như Việt Nam có thể năng cao chỉ số này qua việc ký Hiệp Định với Philippine, Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ Đế Quốc. Đến nay, các Đồng Chí ở phía bắc hay Nga vẫn chưa thích hiệp định vì thực hiện luật rừng không cần giáy tờ nào.

Chỉ số 23, 24, 25: Ỗ nghiễm môi trường. BL: Ngoài vấn đề ô nghiễm âm thanh do loa phường gây ra, không cần BL, chỉ ra nhà vài phút mà thôi hay ăn Vedan hay một số thực phẩm, không cần cụ thể hóa. Gần đây tôi rất lo khi nghe nói ở một số tỉnh Bình Định còn có những công ty đang nhập khẩu những loại thuốc trừ sâu mà đã bị cả Trung Quốc đã bỏ rồi, và bị bỏ ở các nước phương tây hơn 30 năm gì đó chỉ vì” tiền đô còn đâu tiên” (tiền đô là vấn đề đầu tiên).

Chỉ số 26: Thương mại qua biên giới: BL: Nếu tính được hàng lậu chỉ số của Việt Nam sẽ tăng vọt. Mặt khác, những “đồng chí tốt” ở ngoài bắc tiếp tục xâm lược thì chỉ số này có thể thay đổi những cách thứ vị

Chỉ số 31: Số tấn thực phẩm được gửi sang nước ngòai (bằng tấn lúa mỳ). BL: Ở Việt Nam “chẳng trong” (không trồng) lúa mỳ; hãy tập trung vào số lượng gạo hay mì tôm. Nói thật, nên đầu từ vài tỷ đô xem có ai làm phở bò Hà Nội hay Hủ Tiêu Saigòn chuẩn trong một hộp ngon bằng mì tôm Hàn Quốc?

Thực ra, những bình luận trên còn chỗ thiếu tính xây dựng và hy vọng tất cả bạn Việt Nam đồng ý hay không đồng ý với tất cả những ý tưởng của tôi cũng có thể cười và suy ngẫm. Thực vậy, dù những khảo sát như GCI và chính GCI là vớ vẩn và đáng tiếc (đặc biệt đối với sự hiểu biết về Việt Nam ở ngoài Việt Nam) thì ít nhất là một cơ hội để suy ngẫm. (Dạo này tôi suy ngẫm rất nhiều về suy thóai của nền dân chủ của Mỹ, nhưng cũng là cơ hội để học nó, tìm hiểu nó, và đấu tranh).

Theo tôi, đóng góp của Việt Nam không chỉ là lớn hơn đã được phản ánh trong GCI mà là sẽ mạnh hơn nhiều trong những năm tới nếu Việt Nam khắc phục những hạn chế thể chế và chuyển sang những thể chế minh bạch và dân chủ hơn. Dù tôi rất e ngại khi Ông TBT nói “có khả năng ta phải chờ tới cuối thế kỳ này CNXH Việt Nam mới được hoàn thiện”, tôi cũng có thể đồng ý, cón quá sớm để biết những đóng góp của Việt Nam sẽ thế nào.

Đọc kết quả khảo sát của GCI tôi như nhiều người Việt Nam khác thấy rất buồn tiếc và giật mình vì nhiều lý do khác nhau. Song, GCI cũng là một cơ hội tốt để suy ngẫm không chỉ về sự thiếu hiểu biết về Việt Nam của thế giới bên ngoài mà về những trở ngại của đất nước.

Tôi chưa hài lòng lắm với bài này. Nhưng dù sao cũng phản ánh phần nào tình trạng của Việt Nam lúc bấy giờ. Chúng ta có thể bàn mãi về những vấn đề nay. Như đã hàm ý trên, tôi không thích và không tin cậy những khảo sát kiểu này và tháy học thực sự là một sự làm hại. Tức là khảo sát về đóng góp này chẳng đóng góp gì lớn cho thế giới.

(Xin hỏi, nước đảo Ireland là số 1 trong khảo sát vì xuất khảo dước phẩm nhiều nhất và vì có khối lượng thương mại qua biển cực lớn nhưng ở phía sau phải biết cách đây 20 năm chính quyền ở nước đó đã áp dụng những chính sách quá đáng: Mời hàng luật công ty nước ngoài vào một chế độ mà không đống thuế nào, thành một thiên đường neo-liberal, và dù có tăng trưởng kinh tế lớn cùng lúc đã phá hoại mực sống của người dân nước đó. Là đóng góp cho ai đây?)

Là một người quan tâm đến Việt Nam, tôi biết Việt Nam là một nước rất tốt rồi, dù là một nước còn một số hạn chế về thể chế cần và nên khắc phục. Như đã nói tối hôm qua, vaì trò chủ yếu của nhà nước nào ở bất cứ nước nào là để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhân dân. Vậy, tôi vẫn cho rằng nếu Việt Nam cải cách sâu rộng một cách kịp thời và toàn diện, sự phát triển của đất nước sẽ đi nhanh hơn nhiều và toàn thế giới sẽ chẳng cần những khảo sát để thấy Việt Nam là một good country (tức đất nước tốt).

Ngoài ra, nếu Việt Nam có thể giúp thế giới một phần đề cập vấn đề chủ nghĩa bành trướng và phát triển một khuôn khổ vùng bên vững sẽ là một đóng góp vo cùng lớn.

Ai có quan tâm có thể xem toàn chương trình của BBC tại đây, dài nửa tiếng.

Tạm biệt
JL, Hồng Kông

—-
Cho mọi người biết, tháng vừa rồi tôi đã đi công tác và vì thế đã tạm nghỉ việc blog.

 

Share Button

Phỏng vấn về tình hình Biển Đông

Hôm qua được RFA phỏng vấn cho một bài mang tên “Lãnh đạo VN kêu gọi chuẩn bị mọi tình huống cho tranh chấp Biển Đông” do Trà Mi thực hiện. Đọc toàn bài ở đây và nghe bài và hai phỏng vấn (Phạm Chí Dũng và tôi) ở dưới. Đoạn của tôi bất đầu từ phút 07:00.

Một phần cũng có trong video ở dưới, nhưng phần nhỏ thôi. Nghe hay đọc bài hay hơn.

JL

Share Button

Vài giải pháp cho Việt Nam

china's attacks, fishing vessesl, east sea, hoang sa

Viet Nam News

Những hỗn loạn và bạo lực bùng nổ ở Việt Nam cách đây hai tuần đã hút sự quan tâm của thế giới khỏi các nguyên nhân căn bản của căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam, và thật ra là giữa Trung Quốc và khu vực. Về bản chất, chúng xuất phát từ yêu sách vô căn cứ pháp lý của Bắc Kinh, đòi chủ quyền đối với hơn 80% biển của khu vực, và từ ý đồ của Bắc Kinh nhằm áp đặt tính chính đáng cho các yêu sách đó thông qua các biện pháp vũ lực.

Trên bình diện quốc tế, việc Bắc Kinh cho quân đội canh giữ giàn khoan dầu khổng lồ của họ trong vùng biển tranh chấp được hiểu là một hoạt động mang tính chính trị, nhằm thay đổi hiện trạng ở Đông Á. Còn đối với Việt Nam, hành động của Bắc Kinh buộc giới lãnh đạo Việt Nam phải suy nghĩ lại một cách cơ bản về tầm nhìn chiến lược của họ – một công việc vừa nguy hiểm vừa mang lại cơ hội. Hiện tại, lãnh đạo Việt Nam đối mặt với ba thách thức.

Thách thức thứ nhất là dọn dẹp và tái thiết, để giải quyết và vượt qua những hậu quả còn tồn đọng của các cuộc bạo loạn hai tuần trước. Rất cần phải nhấn mạnh rằng nguyên nhân chính xác của vụ hỗn loạn vẫn chưa được xác định, và trên thực tế, nguyên nhân đó có vẻ khác nhau tùy theo ba nơi xảy ra biến cố. Cũng cần phải lưu ý rằng bạo loạn xảy ra ở ba tỉnh chứ không phải 21, như nhiều nơi đã đưa tin sai. Chết chóc, thương tật, và thiệt hại như xảy ra đã không có lợi chút nào cho hình ảnh Việt Nam. Và những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm gia tăng áp lực, thông qua các biện pháp chính trị, kinh tế và quân sự, cũng vậy.

Liên quan đến các vụ bạo loạn, khó khăn lớn nhất của Hà Nội là mở rộng điều tra và đưa ra được một cách giải thích rõ ràng về nguyên nhân gây bạo loạn, tiến hành bồi thường nhanh chóng, và bằng mọi cách cần thiết, thể hiện cho toàn thế giới thấy tại Việt Nam vẫn sẽ là một môi trường đầu tư hấp dẫn. Người ta có thể hy vọng là những việc làm cụ thể theo hướng này đang được tiến hành.

Căn bản hơn, người dân Việt Nam đang đối diện với những quyết định về tương lai của đất nước. Trên thực tế, có hai nhóm câu hỏi khác nhau nhưng có liên quan đến nhau. Thứ nhất là nhóm các câu hỏi về những chiến thuật mà Việt Nam nên sử dụng để đáp lại lối hành xử của Bắc Kinh. Thứ hai là nhóm các câu hỏi về tầm nhìn chiến lược xa hơn của Việt Nam, các mối quan hệ và các điều kiện mà nước này cần để có thể sống trong hòa bình, thịnh vượng, và an ninh trong những năm tới và thập kỷ tới.

Việc Hà Nội phản ứng với Bắc Kinh một cách thận trọng và thăm dò là điều có thể thấy trước, khi mà sức mạnh của hai bên không cân xứng và thực tế là Việt Nam hiện tại không có đồng minh. Có quá ít lựa chọn, lãnh đạo Việt Nam cho thấy – ngày càng rõ ràng hơn – rằng họ không chấp nhận các yêu sách của Trung Quốc, và họ sẽ phản ứng chỉ bằng các biện pháp ngoại giao và pháp lý. Mặc dù mọi nước đều có quyền tự vệ, nhưng Việt Nam đã đúng khi nhấn mạnh yêu cầu phải tránh đối đầu quân sự. Quân sự hóa xung đột sẽ chỉ gây ra thất bại.

Nếu không có một đột phá về mặt ngoại giao thì theo quan điểm của chúng tôi, Hà Nội nên tiến hành ba bước sau đây:

1. Trước tiên, Hà Nội nên đề nghị Tòa án Quốc tế về UNCLOS ra một phán quyết rằng mọi cấu trúc tự nhiên trên biển Hoa Nam đều là đá và như vậy thì chỉ được hưởng 12 hải lý lãnh hải. Trong trường hợp đó, phần biển còn lại trong khu vực (trừ các vùng đặc quyền kinh tế – EEZ – của các nước) sẽ đều có quy chế của biển quốc tế. Yêu sách của Bắc Kinh, cho rằng quần đảo Paracel [tức là Hoàng Sa trong tiếng Việt] (mà họ chiếm đóng trái phép) xứng đáng có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý chắc chắn sẽ bị tuyên vô hiệu lực. Điều đó có nghĩa là, các đảo thuộc quần đảo Paracel mà hiện tại đang bị Bắc Kinh kiểm soát sẽ đều chỉ có lãnh hải 12 hải lý, và việc triển khai giàn khoan dầu tuần trước và tuần này sẽ là bất hợp pháp.

2. Thứ hai, Việt Nam nên tham gia vụ kiện của Philippines, kiện đường 9 đoạn, dựa trên căn cứ rằng không thể có vùng nước lịch sử nào cả, trừ phi đó là một cái vịnh; mọi yêu sách về chủ quyền trên biển đều phải đặt cơ sở trên đất.

3. Thứ ba, Hà Nội nên xem xét hủy bỏ tất cả các yêu sách đối với những cấu trúc đá nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và Malaysia, và ngồi vào bàn đàm phán, thỏa thuận với các quốc gia ASEAN khác cũng có yêu sách chủ quyền, để công nhận chủ quyền đối với những cấu trúc đá mà hiện tại các nước đó đang nắm giữ. Căng thẳng trên biển Hoa Nam chưa hề có dấu hiệu giảm bớt. Hà Nội và Manila có thể hiện ra rằng họ muốn hữu nghị với Trung Quốc đặt trên cơ sở tôn trọng, hợp tác, tuân thủ các điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế. Hà Nội và Manila nên đi trước để làm gương, và nên ngay lập tức giải quyết tranh chấp giữa chính họ với nhau, đồng thời tìm cách kết nối với Malaysia, Indonesia và các đối tác khác.

Quay trở lại với chuyện tương lai của Việt Nam. Việc căng thẳng gia tăng trên Biển Đông của Việt Nam đã gây ra một loạt diễn biến, buộc Hà Nội và thật ra là toàn thể người dân Việt Nam phải đánh giá lại tầm nhìn chiến lược của nước mình. Rất nhiều người ở Việt Nam tin rằng cách bảo vệ đất nước tốt nhất là thoát Trung, bằng cách tiến hành những cải cách thể chế “thay đổi cục diện” – vốn dĩ cần thiết để giành được sự ủng hộ của khu vực và quốc tế. Những cải cách đó bao gồm cả cam kết thực thi nhà nước pháp quyền, thực thi các sửa đổi hiến pháp căn bản, và làm cho Việt Nam phù hợp một cách nhanh chóng và thực chất với các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền mà chính Nhà nước Việt Nam đã cam kết.

Mặc dù các bước đi táo bạo đó có thể bị nhiều người cho là bất khả thi về chính trị, hay nói đơn giản là không thể thực hiện được, nhưng các bạn hãy dành một phút để nhớ lại rằng, Việt Nam hiện đang đối đầu Trung Hoa một cách cô độc. Tuy Việt Nam vẫn phải theo đuổi quan hệ hữu nghị với Trung Quốc, nhưng họ chỉ có thể sống trong an toàn, an ninh, được thế giới tôn trọng và ủng hộ, mà điều đó chỉ có thể có được nếu các lãnh đạo và nhân dân của họ xây dựng một tương lai trong đó Việt Nam được độc lập, tự do, và có một trật tự xã hội dân chủ hơn, minh bạch hơn. Cũng giống như với Myanmar, thế giới có thể ủng hộ Việt Nam ngay lập tức.

Điều mà Trung Quốc, Việt Nam, và toàn thể khu vực cần là năng lực lãnh đạo tốt hơn và có trách nhiệm hơn. Từ Đông Bắc Á cho đến Đông Nam Á, các nhà lãnh đạo của Đông Á phải phối hợp thúc đẩy hòa bình và trật tự trong khu vực trên cơ sở hợp tác thay vì hăm dọa.

Giới lãnh đạo chính trị Trung Hoa đã liên tục nói về sự “trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc. Nhưng chỉ có chính họ phải chịu trách nhiệm về việc Trung Quốc nhanh chóng bị các nước láng giềng trong khu vực căm ghét và làm cho Mỹ cũng như các siêu cường khác trên thế giới lo ngại. Nếu muốn có hòa bình và trật tự ở châu Á Thái Bình Dương, Bắc Kinh phải áp dụng các chuẩn mực quốc tế, phải từ bỏ đường 9 đoạn vô căn cứ pháp lý, và phải bắt đầu công việc đàm phán, thương lượng một cách chính trực hơn. Khi đó và chỉ khi đó, Trung Quốc mới giành được sự tin tưởng và tôn trọng của khu vực và thế giới.

Người viết: Jonathan Đ. London và Vũ Quang Việt

Share Button

Trả lời phỏng vấn Người Việt Online: “Vụ khoan dầu khiến Việt Nam đi trên lộ trình mới”

Xin chia sẻ với các bạn một bài trả lời phỏng vấn đã được đăng trên Người Việt Online. Phỏng vấn đã được thực hiện ở Hà Nội, thứ 7 vừa qua.

GS Jonathan London: “Vụ khoan dầu khiến Việt Nam đi trên lộ trình mới”
Wednesday, May 28, 2014 9:10:31 PM

Hà Giang/Người Việt

LTS: Tiến sĩ Giáo sư Jonathan D. London, giáo sư tại Phân Khoa Nghiên cứu Á Châu Á và Quốc Tế và là thành viên chủ chốt của Trung Tâm Nghiên Cứu Ðông Nam Á tại Ðại Học Hồng Kông, nói với nhật báo Người Việt, trong một cuộc phỏng vấn gần đây, rằng cuộc khủng hoảng tạo ra do việc Trung Quốc mang giàn khoan dầu HD-981 vào lãnh hải Việt Nam, đã khiến Việt Nam đi trên một lộ trình mới về mối quan hệ với Trung Quốc. Cuộc phỏng vấn do Hà Giang thực hiện qua điện thoại hôm 25 Tháng Năm, trong lúc ông đang ở Hà Nội.

 

Tàu hải cảnh của Trung quốc đâm thẳng vào tàu Cảnh sát biển của Việt Nam ở gần khu vực dàn khoan HD 981. (Hình: Tuổi Trẻ)


Hà Giang (NV): Người Việt khắp nơi trên thế giới đang theo dõi cuộc việc Trung Quốc mang giàn khoan dầu vào lãnh hải Việt Nam rất chặt chẽ, và có những bình luận khác nhau. Người cho rằng Trung Quốc cuối cùng đã hoàn toàn xâm chiếm Việt Nam. Người khác hy vọng rằng cuộc khủng hoảng này sẽ mang lại một sự thay đổi khiến Việt Nam thoát được vòng kiềm tỏa của Trung Quốc, và người lại nghĩ rằng Trung Quốc sẽ rút giàn khoan dầu của họ vào tháng Tám, và cuối cùng tình hình Việt Nam lại đâu cũng vào đấy. Ông nghĩ là cuộc khủng hoảng này sẽ đưa đến kết cục thế nào?

Giáo Sư Jonathan London: Tôi nghĩ rằng kết cục sẽ là không có kết cục gì hết trong khoảng thời gian tới. Tình hình sẽ tiếp tục căng thẳng và rất khó dự đoán tương lai. Tuy nhiên đã có nhiều biến chuyển, và điều hấp dẫn nhất về tình hình hiện nay là nó đưa đến nhiều kết quả bất ngờ. Bất kể nhận định việc mang giàn khoan dầu vào lãnh hải Việt Nam của Bắc Kinh có khôn ngoan hay không, không thể thay đổi thực tại là những gì họ làm đã gây ra một phản ứng dây chuyền, đẩy tình thế đến nhiều hướng rất bất ngờ, và có thể nói là ngoài tầm kiểm soát. Ðây là một thời điểm đầy biến động, và tôi nghĩ rằng dựa vào những lời tuyên bố của Bắc Kinh, ngoại trừ có những giải pháp ngoại giao đột biến, Việt Nam có thể sẽ có những thay đổi lớn.

NV: Có phải giáo sư đang nói rằng giả sử đến ngày 15 Tháng Tám, Trung Quốc mang giàn khoan đi, và không có biến chuyển gì mới, Việt Nam vẫn đang ở đi trên một lộ trình khác nhiều so với ba tháng trước đó?

Giáo Sư Jonathan London: Vâng, tôi tin như thế. Tôi tin rằng một số quy trình mà kết quả không lường được đã bắt đầu tại Việt Nam một cách nghiêm túc, và giai điệu của các cuộc thảo luận chính trị ở Việt Nam hiện nay thực sự là chưa từng có. Người ta có thể hình dung rằng sau một số bước đột phá bất ngờ trên mặt trận ngoại giao, mọi thứ sẽ lắng xuống khá nhanh chóng và mọi việc sẽ trở về nguyên trạng, nhưng tôi nghĩ rằng tình hình Việt Nam sẽ rất khác. Tôi cũng nghĩ rằng nếu những căng thẳng hiện giờ không suy giảm, thì xác suất có những thay đổi lớn về quan điểm chiến lược cũng như chính sách của Việt Nam gần như là điều chắc chắn.

NV: Giáo sư đã gặp gỡ và thảo luận với nhiều bạn bè ở Hà Nội, tâm trạng của người ở đó bây giờ ra sao?

Giáo Sư Jonathan London: Tôi phải nói là tâm trạng của người Hà Nội đã thay đổi thực sự đáng kể chỉ trong một vài ngày, và phần lớn sự thay đổi đó liên quan đến những lời phát biểu được người dân Việt Nam tiếp nhận một cách nồng nhiệt của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Tình thế tích cực ở chỗ có thể nó buộc Việt Nam phải suy nghĩ kỹ một chính sách khác với lộ trình Việt Nam vẫn đang theo đuổi từ trước đến nay, và một điều rất hiển nhiên là Việt Nam cần có nhiều bạn bè.

Việt Nam hiện không có bạn bè và đồng minh thân thiết và rõ ràng là cần phải có quan hệ tốt với Trung Quốc và hy vọng sẽ tiếp tục có quan hệ tốt với nước này. Ngay cả giữa những sự căng thẳng và đe dọa là sẽ có xung đột quân sự, về lâu về dài, Việt Nam tuyệt đối cần phải tìm cách để sống bên cạnh người láng giềng Trung Quốc, như Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng từng nêu ra rằng mối quan hệ giữa hai nước phải đặt trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau chứ không phải là sự bắt nạt. Cách duy nhất để có thể có được quan hệ này, là Việt Nam phải đứng vững được hơn trên đôi chân của mình, phải tạo được quan hệ tốt hơn, sâu sắc hơn với nhiều quốc gia. Nói tóm lại, Việt Nam sẽ cần phải cởi mở hơn, một thay đổi mà cách mà các nhà lãnh đạo Việt Nam từ trước đến giờ có khuynh hướng cưỡng lại. Nhiều người có nhận định rằng các tương quan giữa các thế lực chính trị tại Việt Nam đang thay đổi một cách rất nhanh chóng và thú vị.

NV: Ngay trong lúc Việt Nam đang tỏ dấu hiệu muốn có quan hệ sâu sắc hơn với Hoa Kỳ, trong một cuộc họp tại Malaysia, ông Nguyễn Tấn Dũng lập lại chính sách “ba không” của Việt Nam, trong đó có chính sách không liên minh quân sự với bất cứ nước nào. Ông có thấy đây là một chủ trương mâu thuẫn?

Giáo Sư Jonathan London: Không, tôi nghĩ rằng đó là một điều khôn ngoan. Bởi vì Trung Quốc là một cường quốc đang lên và là một sức mạnh bá chủ tiềm năng, còn Mỹ thì là lực lượng duy nhất có thể kiềm chế được họ, nên nếu Việt Nam tuyên bố đang phát triển một liên minh quân sự với Mỹ, thì tôi ngờ rằng Trung Quốc sẽ xem đó là một động tác thù nghịch, và có thể Bắc Kinh sẽ có những phản ứng không lường được. Ở tại một khu vực mà từ nhiều thập kỷ nay không có chiến tranh, không sẵn sàng cho những xung đột quân sự, vì thế cần phải có những vùng đệm, ví dụ giữa Trung Quốc và Mỹ hay giữa Trung Quốc và các cường quốc khác trong khu vực. Tôi nghĩ rằng Việt Nam vẫn có thể có bạn bè, vẫn có thể có đồng minh, và vẫn có thể có phản ứng ngoại giao được thế giới ủng hộ cho những hành xử trái với tiêu chuẩn quốc tế của Trung Quốc. Tôi hiểu lập luận của giới chỉ trích rằng Việt Nam quá mềm yếu, nhưng tôi nghĩ lập luận này không đúng. Tôi nghĩ rằng điều quan trọng là cần phải có tầm nhìn xa, và phải tận dụng mọi phương tiện cần thiết để giải quyết tranh chấp mà không dẫn đến chiến tranh tại Ðông Nam Á. Dĩ nhiên, nếu tình hình xấu đi, và thực sự có chiến tranh, thì tình thế sẽ khác, nhưng tôi nghĩ rằng hiện giờ những gì Việt Nam đang làm là đúng.

NV: Nếu Việt Nam không liên minh quân sự với nước nào, thì nếu Trung Quốc xem đó như là một nhược điểm và quyết định tấn công, thì ai sẽ là người trợ giúp Việt Nam?

Giáo Sư Jonathan London: Liên minh quân sự là một chuyện, hợp tác quân sự lại là một chuyện khác. Dù Washington từng háo hức nói rằng họ muốn mở rộng quan hệ (với Việt Nam), vào thời điểm này, mối quan hệ giữa hai bên còn lỏng lẻo. Tôi cho rằng có nhiều cách để phát triển các mối quan hệ an ninh và (Việt Nam) có thể sử dụng thuật ngữ này thay vì cụm từ “liên minh quân sự.” Có nhiều cách để phát triển các mối quan hệ an ninh để đạt được hiệu quả tốt cho những thách thức mà Việt Nam đang phải đối diện. Tình thế hết sức phức tạp, tôi khó có thể hình dung Mỹ có thể đẩy Trung Quốc ra một bên hay đánh bật họ tại thời điểm này. Chúng ta đang ở trong một tình hình rất nhạy cảm. Thủ tướng Việt Nam đã nói rằng Việt Nam đã trải qua quá nhiều chiến tranh rồi, tôi nghĩ rằng thế giới sẽ đồng ý với điều đó, và như vậy, dù tình hình có thể thay đổi, ngay lúc này, cần phải tính từng bước một. Có nhiều cách để phát triển một mối quan hệ an ninh mà không cần thông báo là đang thiết lập một liên minh quân sự, chẳng hạn.

NV: Ông James Hardy, biên tập viên về khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của tạp chí quốc phòng IHS Jane’s Defence Weekly cho rằng “quan hệ Mỹ-Việt Nam đã được cải thiện dần trong những năm gần đây đến độ việc bỏ cấm vận vũ khí có thể xẩy ra.” Ông có đồng ý với nhận định này không?

Giáo Sư Jonathan London: Có những hạn chế nhất quán về quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam liên quan đến tình hình nhân quyền, và mỗi khi đề cập đến việc này thì phải đối mặt với một rào cản. Vì vậy, có rất nhiều điều Việt Nam cần phải làm ngay lập tức nếu thực sự muốn có bạn bè và đồng minh. Ðể được quốc tế tôn trọng, Việt Nam cần phải giải quyết những hạn chế về quan hệ với Mỹ và các nước dân chủ khác. Ðó là lý do tại sao nhiều người cho rằng có nhiều triển vọng cho Việt Nam, vì nếu Việt Nam bước trên một lộ trình khác, một lộ trình thực sự độc lập mà không phải là một đàn em của Trung Quốc, và giải quyết những vấn đề thể chế, bao gồm việc không giới hạn nhân quyền từ trước đến giờ cản trở nhiều mối quan hệ với các nước khác. Việt Nam có được phép mua công nghệ quân sự và những vũ khí sát thương hay không là điều có thể xảy ra, nhưng còn tùy.

NV: Về tranh chấp tại Biển Ðông, Hà Nội đang tính đến việc kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế, nhưng nước này từng tuyên bố là sẽ bất chấp phán quyết của tòa, ông nghĩ rằng Việt Nam có ích lợi gì không khi kiện Trung Quốc?

Giáo Sư Jonathan London: Nếu Bắc Kinh không thay đổi chính sách, đưa họ ra tòa quốc tế là một điều tốt, vả lại ngoài biện pháp đó Việt Nam còn có sự lựa chọn nào? Việt Nam có một hồ sơ pháp lý khá vững vàng, và tôi nghĩ rằng Việt Nam sẽ có lợi rất nhiều, nhất là song song với việc áp dụng những biện pháp khác như phát triển quan hệ tốt với những nước khác như tôi đã nói. Việt Nam sẽ thắng về mặt dư luận quốc tế nếu chứng minh được rằng mình đang bị xâm lược một cách bất công. Dù Bắc Kinh có chấp nhận hay không chấp nhận phán quyết của tòa, việc nộp đơn kiện vẫn có lợi, vì nó giúp Việt Nam tăng cường chính danh của việc tuyên bố chủ quyền của mình. Việt Nam cũng cần chuẩn bị tinh thần để chấp nhận phán xét của tòa án nếu tòa quyết định không có lợi cho Việt Nam. Ðiều thiết yếu là những tranh chấp này phải có một buổi điều trần công bằng, dưới luật tố tụng của quốc tế.

NV: Ông từng viết rằng tình hình căng thẳng hiện nay đòi hỏi lãnh đạo Việt Nam phải có những thay đổi đột phá để giải quyết những bế tắc chính trị hiện có. Theo ông, liệu tình thế này có thể đưa đến sự đột phá đó không?

Giáo Sư Jonathan London: Có lẽ. Tôi nghĩ rằng đã có một thay đổi cán cân quyền lực, và thay đổi đó là một trong những yếu tố quan trọng trong sự bế tắc, cụ thể là mối quan hệ với Trung Quốc đã chuyển đổi, đã có những quan điểm khác nhau từ căn bản. Tôi không biết ông Nguyễn Tấn Dũng đóng vai trò nào trong tương lai chính trị của Việt Nam, nhưng tại thời điểm này ông rõ ràng đã trở thành một lãnh đạo nổi bật nhất của đất nước, trong khi đó một số các nhà lãnh đạo khác phần lớn im lặng về các cuộc xung đột hiện nay với Trung Quốc. Việt Nam chỉ có thể có lợi trong việc lợi dụng tình huống này như một cơ hội để đạt được những cải cách mang tính đột phá mà mọi người dân Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới đã chờ đợi và khuyến khích. Cái cần phải có là can đảm chính trị.

NV: Cảm ơn ông đã dành thời giờ cho cuộc phỏng vấn.

Share Button

Một số góp ý về quá trình cải cách trong tình hình mới

 Với tư cách là một học giả trong lĩnh vực kinh tế chính trị học đối sánh và một nhà phân tích Việt Nam đương đại, tôi liên tục phải đối mặt với những tình thế nan giải về việc làm sao để đóng góp tốt nhất cho Việt Nam. Tôi không phải là người chỉ gò bó trong phạm vi quan sát, phân tích và lý giải. Chúng ta đều là con người. Chúng ta sống trong một thế giới không thoát khỏi chính trị. Đôi khi, thế giới đó đặt chúng ta vào những tình huống khó xử bất ngờ trên phương diện thực tiễn và đạo đức mà nếu chúng ta phớt lờ chỉ có thể có hại cho chính mình.

Tương lai Việt Nam là vấn đề của Việt Nam. Tuy nhiên, có những trường hợp trong đó những ý tưởng và quan điểm từ bên ngoài có thể hữu ích. Trên tinh thần đó, tôi đề xuất những ý tưởng sau đây với hy vọng rằng chúng có thể đóng góp cho những thảo luận mang tính xây dựng, hướng về tương lai, giữa người Việt với nhau về tương lai đất nước của họ.

 ***

Một số góp ý về quá trình cải cách trong tình hình mới

Cần có một quá trình cải cách thể chế mang tính đột phá để đưa Việt Nam đến một tương lai vững chắc và thịnh vượng. Một đề xuất như vậy bao gồm những yểu tố mang tính mục tiêu và hệ thống. Nó sẽ có khả năng lôi kéo sự ủng hộ của các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Úc, Mỹ và nhiều nước thành viên trong khối ASEAN. Khi cần thiết, nó có khả năng bao gồm mối quan hệ hợp tác với những tổ chức về minh bạch và hỗ trợ mang tính kỹ thuật thích hợp. Những nhà đầu tư từ Đài Loan và Hongkong nên được hoan nghênh một cách nhiệt tình trong khi những nỗ lực để giải quyết căng thẳng với Bắc Kinh tiếp tục.

Nghị trình này sẽ không mang tính đối đầu và hướng tới đưa Việt Nam trở lại quỹ đạo tăng trưởng cao sau một thời gian chững lại, cùng lúc phục hồi và xây dựng lòng tin quốc gia trong bối cảnh những thách thức hiện nay.

Mặc dù tình trạng hỗn loạn và bạo lực tuần trước là vô cùng đáng tiếc, nguyên nhân chính vẫn chưa được xác định. Trong khi đó, những căng thẳng trên biển nay có dấu hiệu suy giảm trong tương lai gần. Sắp tới, Hà Nội sẽ phải nỗ lực với quyết tâm cao nhất để giải quyết những căng thẳng với Bắc Kinh bằng các giải pháp trên phương diện ngoại giao, pháp lý và mang tính sáng tạo mà từ trước tới nay chưa nghĩ đến. Các giải pháp sáng tạo có thể bao gồm những đề xuất hợp tác phát triển, gìn giữ song và đa phương dựa trên cơ sở và chuẩn mực quốc tế lâu đời và nhằm mang lại lợi ích kinh tế, môi trường và an ninh cho toàn khu vực. Tư duy tất cả về tay kẻ chiến thắng sẽ chỉ chuốc lấy thất bại. Điều đó sẽ thúc đẩy việc quân sự hóa liên tục trong khu vực với mọi hiểm họa đi kèm.

Nền kinh tế Việt Nam chưa phát huy được tiềm năng của nó là bao. Tốc độ tăng trưởng chậm lại và giờ đây có nguy cơ vĩnh viễn rơi vào quỹ đạo tăng trưởng thấp do những hạn chế về thể chế mà bất cứ người Việt nào có đầu óc cải cách trong và ngoài nhà nước đều dễ dàng nhận thấy. Những hạn chế này gồm thiếu chế độ pháp trị, các thể chế quản lý yếu cộng với những nỗ lực sai lầm để đạt tới một nền kinh tế thị trường với nhà nước đóng vai nặng nề, cũng như thái độ đàn áp nhân quyền làm hủy hoại tính minh bạch, và không kém phần quan trọng, là sự hình thành một loại hình chính trị nhóm lợi ích bè phái đang sử dụng hết sức kém hiệu quả lãng phí nguồn tài nguyên khan hiếm của quốc gia.

Việc thừa nhận những hạn chế thể chế này không phải để chỉ trích Việt Nam mà để nhấn mạnh rằng, nếu Việt Nam muốn có một tương lai thịnh vượng mà người dân xứng đáng được hưởng thì phải thực hiện những cải cách mang tính đột phá.

Một trong những ảnh hưởng khôn lường từ những căng thẳng trên biển gần đây là qua đó ta thấy rõ Việt Nam phải nhanh chóng đánh giá lại tầm nhìn chiến lược của mình. Đất nước phải tránh những quan hệ đối kháng với Trung Quốc. Tình hữu nghị phải được phục hồi và củng cố. Tuy nhiên, tình hữu nghị đó phải dựa trên những nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Nhưng, điều này lại đòi hỏi Việt Nam phải trụ vững trên đôi chân của mình khác hẳn từ trước tới nay.

Việt Nam đang đứng trước ngã tư đường. Để quay lại quỹ đạo tăng trưởng cao và tồn tại trong hòa bình, ổn định mà không sợ hãi, đất nước phải thay đổi. Để đạt được những thay đổi này, đất nước cần sự ủng hộ của quốc tế. Nhưng để đạt được điều đó, hàng ngũ lãnh đạo đất nước phải trao đổi và thể hiện cho thế giới thấy rằng họ quyết tâm thay đổi. Qua những phản hồi từ công chúng đối với phát ngôn gần đây của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và dựa trên hiểu biết của mình về Việt Nam, tôi hết sức tin tưởng rằng nhân dân Việt Nam sẽ hoan nghênh những thay đổi đó. Can đảm chính trị là những gì cần thiết tại thời điểm này.

Cụ thể là có thể làm gì?

1. Một đội công tác cần được thành lập, dẫn đầu là Bộ trưởng Bộ kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh, cùng hợp tác với các tổ chức phát triển quốc tế và các tổ chức hỗ trợ kỹ thuật liên quan để phác thảo một chiến lược giải quyết nhanh chóng và hiệu quả những thiệt hại do các vụ việc ở Bình Dương, Hà tĩnh và ở bất cứ địa phương nào được xem là cần thiết;

2. Các lãnh đạo nhà nước cùng với sự hỗ trợ của các đối tác phát triển quốc tế về khía cạnh vật chất và kỹ thuật cần triển khai một chiến dịch phục hồi kinh tế và xây dựng lòng tin để tìm cách khắc phục tình trạng và nguyên nhân gây ra những rối loạn gần đây. Thông tin về các nguyên nhân chính xác của rối loạn cần được công bố cho thế giới;

3. Hà Nội phải cho thấy tinh thần sẵn sàng nhanh chóng thực hiện nhiều cải cách hơn những gì mà Thủ tướng đã đề cập trong thông điệp đầu năm và cam kết này phải được thể hiện bằng việc triển khai những biện pháp thiết thực để thiết lập chế độ pháp trị, mà theo định nghĩa cần phải sửa đổi hiến pháp;

4. Khung thời gian thực thi quá trình này cần được thông báo và kèm theo đó là việc phóng thích những tù nhân lương tâm trong một thời gian sớm nhất. Tuy những cuộc biểu tình rầm rộ có chỗ đứng trong thế giới chính trị, nhưng chúng không phải lúc nào cũng hữu ích. Nếu các lãnh đạo nhà nước thể hiện sự quyết tâm thay đổi để bảo vệ những quyền phù hợp với chuẩn mực quốc tế về nhân quyền, thì tất cả các thành viên của cộng đồng bất đồng chính kiến phải có trách nhiệm cam kết tuân thủ các nguyên tắc văn minh và bất bạo động. Trật tự xã hội là thiết yếu, nhưng cần phải hợp tác, tin cậy và hy sinh;

5. Trên cơ sở những biến chuyển được thể hiện về chế độ pháp trị và tuân thủ những nguyên tắc quốc tế về nhân quyền, nhà nước của các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, Liên minh châu Âu, Úc và New Zealand sẽ ngay lập tức nâng cao tầm quan hệ với Hà Nội;

6. Nên định ra một lộ trình cải cách thể chế – chẳng hạn hiến pháp – thực thi trong vòng không quá một năm; nhóm 72 nhân sĩ trí thức, những người đấu tranh cho cải cách hiến pháp vào năm 2013 hoặc những đại diện của họ cần được mời để tham vấn. Những cá nhân ưu tú ở các cộng đồng người Việt hải ngoại cần hỗ trợ;

7. Tiếp tục đường lối ngoại giao với Bắc Kinh trên phương diện nhấn mạnh phát triển hợp tác về tài nguyên và phi quân sự hóa trên biển Đông Nam Á. Những đe dọa và hành động quân sự cần được thay thế bằng những nỗ lực tăng cường (chứ không phải làm suy yếu) các chuẩn mực quốc tế. Hợp tác và sử dụng sáng tạo những động cơ của tất cả các bên để hỗ trợ quá trình hợp lý hóa các yêu sách trong khu vực. Những nguyên tắc “kiềm chế lẫn nhau”, tôn trọng và quan hệ hợp tác là thiết yếu.

Nếu những điều trên có vẻ bất khả thi về mặt chính trị, hãy công nhận rằng những giải pháp đề xuất gây tranh cãi nhất ở trên có thể giúp Việt Nam và sẽ được quốc tế công nhận và ủng hộ ngay lập tức. Những phản đối rằng cải cách đích thực ở Việt Nam chỉ có thể xảy ra sau khi đạt được tăng trưởng kinh tế có thể bị bác bỏ bằng những bằng chứng phong phú rằng chính việc không có những cải cách đó đã cản trở sự phát triển của Việt Nam. Hành động trong tình đoàn kết quốc gia và quan hệ đối tác với các nước có cùng quan điểm sẽ đưa Việt Nam đến một tương lai tươi sáng hơn. Nhân dân Việt Nam xứng đáng được hưởng điều đó.

Jonathan London
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2014

Share Button

An Agenda for Institutional Reform in the Current Context

As a scholar of comparative political economy and analyst of contemporary Vietnam I am constantly confronted with dilemmas as to how best engage with Vietnam. Staying strictly within the realm of observation, analysis, and explanation is not for me. We are all human beings. We inhabit a world that is inescapably political. And a world that, from time to time, imposes upon us unexpected practical and moral dilemmas that we ignore at our own peril.

Vietnam’s future is the business of Vietnam. There are, however, instances in which foreign ideas and perspectives may have value, and it is in this spirit that I put forward the following ideas with the hopes that they might feed into constructive, forward-looking discussions among Vietnamese about the future of their country.

***

 An Agenda for Institutional Reform in the Current Context

An agenda of institutional reform must be undertaken to place Vietnam on path to a prosperous, secure future. Such an initiative would comprise targeted and systemic elements. It would draw support from the states of such countries as Korea, Japan, Singapore, Australia, the United States, and self-selected members of ASEAN. Where necessary, it would feature partnership with relevant technical assistance and transparency organizations. Investors from Taiwan and Hong Kong should be enthusiastically welcome as efforts to resolve tensions with Beijing continue.

The initiative I have in mind would be non-adversarial in nature and aimed at restoring Vietnam to a high-growth trajectory after a period of slow growth while restoring and building national confidence in the context of present challenges. If other such efforts are already underway, they should be wholeheartedly supported.

Although the chaos and violence of last week are deeply regrettable, the precise causes have, as yet, not been identified. In the mean time, tensions on the seas show now sign of abating in the near term. In the time ahead, Hanoi must work with maximum resolve to address the tensions with Beijing through diplomatic, legal, and creative solutions heretofore unimagined. The latter might include bi-lateral and multi-lateral joint development and preservation initiatives based on sound and enduring international norms and designed to bring economic, environmental, and security benefits to the entire region. A winner-takes-all logic will only produce losers. It will feed the continued militarization the region, with all attendant risks.

Vietnam’s economy is performing far below its potential. That its growth has slowed and now risks seeking permanently to a low-growth trajectory owes to institutional constraints widely recognized by reform-minded Vietnamese within and outside of the state. These include the absence of the rule of law, weak regulatory institutions, and misguided efforts to achieve a state-dominated market economy, as well as a repressive human rights posture that crushes transparency and, not least, the development of a brand of patron-client interest-group politics that has proven vastly counterproductive and wasteful of scarce national resources.

To acknowledge these institutional constraints is not to criticize Vietnam – it is to underscore that if Vietnam is to have the prosperous future its people deserve it must under-take breakthrough reforms.

One of the unforeseen effects of recent tensions on the seas is the clear sense that Vietnam must swiftly reevaluate its strategic outlook. The country must avoid adversarial relations with China. Friendship must be restored and strengthened. But that friendship must stand on the principles of equality and mutual respect. Yet this, in return, will require Vietnam to stand on its own two feet in a way as yet unseen.

Vietnam is at a crossroads. To return to a high-growth trajectory and to live in peace and security and without fear the country must change. To achieve these changes the country needs international support. But to gain that support the country’s leadership must communicate and demonstrate to the world that it is committed to change. Judging by public responses to Prime Minister Dung’s recent statement and based on my knowledge of Vietnam I have every confidence that the Vietnamese people would welcome such changes. What is needed now is political courage.

What, specifically, might occur?

1. A task force should be established led by Bùi Quang Vinh of the Ministry of Planning and Investment and formed in partnership with international development agencies and relevant technical assistance agencies in charting a strategy for effectively and swiftly addressing damage caused by events in Bình Dương, Hà Tĩnh and any other localities as deemed necessary;

2. National leaders working together and with the technical and material support from international development partners should launch a campaign of economic recovery and confidence building that would seek to overcome conditions and causes that fueled the recent disturbances. Information about the precise causes of the disturbances should be made public to the world;

3. Hanoi must signal its readiness to swiftly undertake reforms beyond those the Prime Minister alluded to in his New Year’s message and this commitment must be demonstrated by undertaking real steps to institute the rule of law which, by definition, would require amending the constitution;

4. A time frame for this process should be announced and the introduction of this timeline should be accompanied by the release of prisoners of conscience on a short timetable. While boisterous demonstrations have their place in the world of politics, they are not always helpful. If state leaders demonstrate a commitment to change and to protect rights in line with international human rights norms, all members of the dissident community must accept the responsibility of committing itself to principles of civility and non-violence. Social order is essential, but requires cooperation, trust, and sacrifice;

5. On the basis of demonstrated movements toward the rule of law and adherence to international principles of human rights, states of such countries as Korea, Japan, Taiwan, the United States, the European Union, Australia and New Zealand should immediately elevate the status of their relations with Hanoi;

6. A ‘road map’ for institutional – i.e. constitutional – reforms, to be achieved within one year or less, should be set in place; the group of 72 intellectuals and notable persons who championed constitutional reforms in 2013 or representatives thereof should be invited into consultations as partners. Talented individuals in overseas Vietnamese communities should assist;

7. Diplomacy with Beijing should continue, with an emphasis on the joint development of resources and demilitarization of the Southeast Asia Sea. Militaristic posturing and threats must be replaced by efforts to strengthen – not weaken –international norms. Cooperation and the creative use of incentives by all parties can assist in rationalizing regional claims. Principles of “mutually-assured constraint,” respect, and partnership are essential.

If the above seems politically unfeasible, recognize that the most controversial proposals above measures would win Vietnam immediate international recognition and support. Objections that real reforms in Vietnam can only occur after economic growth has been achieved can be rebutted by an abundance of evidence that it is precisely the absence of such reforms that has slowed Vietnam’s development. Working in the spirit of national unity and partnership with like-minded countries will propel Vietnam into a brighter future. The Vietnamese people deserve no less.

Jonathan London
Hanoi, 25 May 2014

Share Button

Hai bước cần thiết

Tình trạng hiện nay của Việt Nam là khá phức tạp. Hành vi bất chính đáng của phía Bắc Kinh thực sự là khó xử lý. Nhưng có hai vấn đề mấu chốt lại khá đơn giản và phải giải quyết ngay.

Vấn đề thứ nhất là thiếu thống nhất. Vấn đề thứ hai là hiện nay Việt Nam không có một người bạn thân thiết nào cả. Nếu cứ tiếp tục thờ ơ với hai vấn đề vừa lớn vừa đơn giản này, tôi e rằng đất nước sẽ rất khó mà thoát khỏi tình trạng hiện nay. Mặt khác, hai bước này sẽ giúp Việt Nam một cách đang kể và cực nhanh.

Hãy bắt đầu với việc thống nhất. Mới hôm qua, Ông Trương Tấn Sang có phát biểu rằng

“Tôi mong bà con trong những tình huống khó khăn như thế này cần phải hết sức bình tĩnh, sáng suốt và nhắc nhở nhau tăng cường đoàn kết xung quanh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và phải hết sức cảnh giác trước những thông tin mang tính chất chia rẽ nội bộ.”

Dù vẫn hiểu được ý ông nói nhưng tôi lại thấy tuyên bố kiểu này chưa hay lắm vì rất khó có thể giành được sự ủng hộ và thống nhất của toàn bộ người Việt Nam. Chẳng hạn, có ai trên cấp cao dám tuyên bố:

“Vào thời điểm lịch sử này mong toàn dân Việt Nam, không phân biệt quan điểm chính trị nào, dù ở trong hay ngoài nước, cần phải hết sức bình tĩnh, sáng suốt và nhắc nhở nhau tăng cường đoàn kết xung quanh tổ quốc”?

Ý ở đây là toàn xã hội Việt Nam cần phải bắt đầu có một tình thần mới!

Hỡi các bạn Việt Nam! Việc quyết định tương lai của đất nước riêng là quyết định của các bạn. Và tôi không giả định những quan điểm của tôi là hoàn toàn đúng, thậm chí phần lớn đúng. Tuy nhiên, Việt Nam phải thực sự khắc phục sự thiếu thống nhất trong nội bộ và toàn xã hội vào đúng thời điểm này.

Tất nhiên không tể đề cập những vấn đề trên biển trước mặt một mình. Như đã nói trước, Việt Nam phải thể hiện cho thế giới những lý do thuyết phục để làm sao cho họ thấy nên ủng hộ Việt Nam. Việc gửi thông điệp tới LHQ là được cũng như cố gắng giải quyết tranh chấp bằng những phương điện luật pháp. Nhưng xin nghe tôi: nếu không có những tiến bộ rõ nét về mặt thế chế và nhân quyền, thì 100% sẽ không có một nước nào ủng hộ Việt Nam. Đừng phản ứng với những vụ việc Bình Dương và Hà Tĩnh bằng hành vi đàn áp. Hãy tìm những con đường mới để làm cho Việt Nam được thế giới tôn trọng.

Nếu thấy hai bước này là quá lớn, thì đề nghị bạn nghĩ lại Vì nếu có đủ dững cảm đề thay đổi, Việt Nam sẽ thành một nước hừng mạnh hơn và sẽ cũng có rất nhiều nước sẵn sàng bắt tay và giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền và tiến vào một thời kỳ mới.

JL, Hà Nội

Share Button

Khủng hoảng đòi hỏi bước đột phá của đội ngũ lãnh đạo Việt Nam

Những cuộc bạo loạn chết người tuần trước ở Việt Nam tuy gây tổn thất đến hình ảnh và ổn định quốc gia nhưng lại là vấn đề thứ yếu so với bế tắc chính trị dai dẳng của Hà Nội. Theo Adam Fforde, một chuyên gia lâu năm về Việt Nam quan sát: cho tới thời điểm này, chúng ta còn chưa thấy “sự lãnh đạo hoặc chỉ đạo để hướng tới những nỗ lực cần thiết”. (Đó là phân tích của một người rất thân Việt Nam). Và tôi đồng ý, Việt Nam hầu như không còn cơ hội để vượt qua cơn khủng hoảng ở Biển Nam Trung Hoa một cách lành lặn nếu không giải quyết được những bế tắc chính trị của mình.

Nói một cách đơn giản, bế tắc này hiện diện ở bốn nhân vật chính trị được chia thành hai (hoặc thậm chí ba) nhóm. Nhóm thứ nhất vây quanh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, một nhân vật bị nạn tham nhũng tha hóa, lại được những tinh tú quốc doanh cũng như giới cảnh sát ủng hộ. Mặc dù có vẻ là chính khách lành nghề nhất, ông ta lại bị những người gièm pha đầu óc cải cách coi là chưa thực sự cải cách và không có khả năng mang lại những cải cách về thể chế cần thiết cho Việt Nam.

Nhóm thứ hai hướng về Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, chủ tịch nước. Họ là những người bảo thủ hay những người bảo vệ hiện trạng thể chế. Ở phương diện quốc nội, lòng trung thành của họ phần lớn là hướng tới nhau, tới Đảng và quân đội. Ở phương diện quốc tế, lòng trung thành của họ đầu tư dài hạn vào niềm tin rằng Bắc Kinh là một “đồng chí tốt”. Có nhiều y kiến về Trương Tấn Sang, và có ý kiến cho rằng Ông có những quyền lợi cụ thể của mình.

Dù sao, vấn đề không phải là xác định một cách chính xác mà là nhìn rõ về lãnh đạo, Việt Nam đến nay đã có tình trạng bế tắc. Bế tắc này không làm tê liệt nhưng lại gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng vận hành của bộ máy nhà nước. Thay vì đối thoại với thế giới một cách tự tin, chúng ta lại được chào đón bằng sự im lặng kéo dài. Phiên họp toàn thể của Ban chấp hành Trung Ương Đảng gần đây mới chỉ bóng gió đề cập đến khủng hoảng này. Thảo luận trong phiên họp kín của Bộ chính trị vẫn chưa có gì rõ ràng

Điều gì đã xảy ra vậy? Nhiều bộ phận của nhà nước đã phản ứng với thách thức một cách quyết liệt, đặc biệt là, kể cả các lực lượng bảo vệ bờ biển đã bị qua mặt và đánh bại lẫn bộ phận truyền thông nhà nước, đều được bật đèn xanh để công kích Trung Quốc và chưa hề lùi bước. Ở các lĩnh vực khác, rõ ràng nhà nước lại hạn chế khả năng hơn. Vắng bóng những đồng minh thân cận, Hà Nội đã cố gắng truyền tải sự bất mãn của mình bằng tinh thần yêu nước của công chúng. Những nỗ lực này của nhà nước, dù chưa tắt hẳn, nhưng đã suy yếu dần do những hạn chế của chế độ độc đảng.

Một trong nhiều điểm khác biệt quan trọng giữa Việt Nam và Trung Quốc là sự thảo luận chính trị cởi mở hơn của những người tiền nhiệm (mặc dù vẫn còn bị đàn áp). Ngay từ lúc cuộc khủng hoảng bắt đầu, không gian ảo ở Việt Nam đã bốc lên ngùn ngụt. Người Việt Nam ở các phe phái khác nhau đã đòi quyền biểu tình ôn hòa. Trong khi những người biểu tình đầu tiên được phép tiên phong, thì phần nào họ vẫn bị đàn áp. Thay vì quang cảnh những con phố náo nhiệt, nhà nước lên kịch bản chặt chẽ cho các cuộc “mít-tinh phản đối” tại các thính phòng khác nhau để thể hiện cảm hứng yêu nước. Một số người đã bị chụp ảnh lúc đang ngủ gật.

Nỗ lực của nhà nước trong việc tổ chức công nhân biểu tình chống Trung Quốc nhanh chóng trở nên hỗn loạn. Thế nhưng, ở phương diện nào đó thì điều đó cũng chả có gì ngạc nhiên. Cho đến tận sau các cuộc bạo loạn, người Việt Nam vẫn chưa được nghe bất cứ một phát ngôn nào từ các cấp lãnh đạo. Trật tự xã  hội cần sự điều phối và hợp tác chứ không phải đơn giản là mở cổng xả lũ cho những đám đông thiếu cả kinh nghiệm xã hội lẫn chính trị. Thật vô ích để dẫn đến hậu quả tồi tệ và để lại điều tiếng trên trường quốc tế như thế này.

Để giải quyết khủng hoảng vừa rồi, cần phải dũng cảm thực hiện từng bước. Cụ thể, cần phải tiến hành như sau:

1. Hà Nội cần phải nhanh chóng đưa ra tuyên bố. Một nguyên thủ quốc gia cần phải thực hiện điều này và cần được truyền hình trực tiếp. Chính quyền nên cân nhắc hai tuyên bố: một bằng tiếng Việt tới người dân do một nguyên thủ như thủ tướng Dũng chẳng hạn, một bằng tiếng Anh do một trong những quan chức cấp cao thành thạo Anh ngữ. Thứ trưởng Bộ ngoại giao Hà Kim Ngọc, người có sự hiểu biết tinh tế về ngoại giao phương tây, có thể là một ứng của viên thích hợp. Những tuyên bố này cần giải quyết được tình huống theo cả hướng đối nội lẫn đối ngoại, cần giải thích rành mạch vị trí của Việt Nam và dự kiến giải quyết khủng hoảng thông qua các phương tiện pháp lý và ngoại giao chứ không phải bằng biện pháp vũ trang. Nếu Bắc Kinh gửi tối hậu thư trong những ngày tới, Hà Nội phải hồi đáp công khai và rõ ràng.

2. Lập tức thúc đẩy nỗ lực để phục hồi sự tín nhiệm kinh tế. Tổ chức một hội đồng bao gồm những cố vấn quốc tế tin cậy để giải quyết vấn đề của những nhà máy bị tổn thất, những người bị thương và những thử thách mà các nhà quản lý và công nhân ở các doanh nghiệp nước ngoài bị phá hoại phải đối diện. Nhanh chóng phục hồi niềm tin là vấn đề sinh tử. Công việc này phải được thực thi theo cách hơn cả cần thiết.

3. Lãnh đạo nhà nước Việt Nam và lãnh đạo của các tổ chức xã hội dân dự đang phát triển của đất nước, bao gồm cả những người trong và ngoài chính phủ, cần đi tới những thảo luận về những điều khoản tham gia rộng rãi trên phương diện trách nhiệm chính trị của quốc gia đối với khủng hoảng này. Việc này cần bao gồm những quan chức chính phủ hàng đầu, đại diện nhóm Kiến nghị 72 (một tập hợp lỏng lẻo các trí thức cải cách nổi tiếng có những những liên hệ lâu dài với Đảng), và những thành viên chủ chốt đang lãnh đạo các tổ chức xã hội dân sự.

Đó là điều hứa hẹn nhất và là chiến lược hợp lý duy nhất cho Hà Nội để giành quyền kiểm soát trên cả phương diện đối nội cũng như đạt được tinh thần đoàn kết rộng khắp cần thiết để tham gia vào trường quốc tế hiệu quả hơn. Phóng thích những tù nhân lương tâm và tạo động thái với những người Việt hải ngoại sẽ là một thông điệp về một Việt Nam thay đổi và rằng Việt Nam là một đất nước xứng đáng được quốc tế ủng hộ.

4. Việt Nam phải bước ra khỏi các đối sách chính trị và thuật hùng biện theo lối hòa cả làng. Đất nước và khu vực không cần xung đột vũ trang, và vũ trang cần phải tránh mọi giá.

 Về lâu dài, Việt Nam cần theo đuổi các giải pháp mang tính chiến lược và hòa bình trên cả kênh ngoại giao lẫn quốc phòng để Bắc Kinh thấy rằng: vi phạm luật quốc tế và không tôn trọng các quốc gia láng giềng sẽ chỉ chống lại những lợi ích lâu dài của họ. Hà Nội cần tiến tới hợp tác nghiêm túc với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là với Hoa Kỳ. Cuộc thảo luận không cần phải bàn về việc kiềm chế Trung Quốc nhưng cần hướng tới mục tiêu ổn định và đạt được một trật tự thịnh vượng trong khu vực.

Tác giả: Tiến sĩ Jonathan D. London là giáo sư tại Phân khoa Nghiên cứu châu Á và quốc tế (the Department of Asian and International Studies) tại Đại học Thành phố Hồng Kông (the City University of Hong Kong) và thành viên cốt cán của Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á (the Southeast Asia Research Centre).

Lưu ý: là bản dịch thứ hai

Bài vốn được viết cho một đọc tập thể độc giả quốc tế mang tên: South China Sea Crisis Demands Vietnam’s Leadership Breakthrough

Nguồn: http://cogitasia.com/south-china-sea-crisis-demands-vietnams-leadership-breakthrough/

 

Share Button