Sự tham gia chính trị ở Châu Á

pol part asia

Tuần trước tôi có sang Thụy Điển vài hôm để dự một hội thảo hàn lâm với chủ đề ‘Tham gia chính trị ở Châu Á,’ do Trường Đại Học Stockholm tổ chức. Hội thảo kéo dài hai ngày, có khoảng 60 người từ nhiều quốc gia khác nhau tham gia với khoảng 30 bài nghiên cứu được trình bày. Nhiều bài hay lắm.

Chủ đề của hội thảo này có thể được giải thích như sau: Tại Châu Á, các chế độ chính trị đang thay đổi, làm cho chúng ta phải nghĩ lại. Qua nhiều năm, các chế độ chính trị được so sánh trong một khuôn khổ đơn giản như ‘Dân chủ’ hay ‘Độc tài’. Tuy nhiên, ngày nay, một khuôn khổ so sánh như trên chưa chắc phản ánh đầy đủ những điều kiện ở các nước cũng như những gì công dân ở các nước đó đang trải qua.Tức, thực tế là phức tạp hơn.

Nói các quyền dân sự ở các nước độc tài/độc đảng là yếu là không sai. Thế nhưng, mức độ các quyền được tốn trọng qua các nước khác nhau cũng không đồng đều, thâm chí ngay cả ở các nước được xem là ‘dân chủ tự do (tức democratic liberal regimes).’ Ở các nước độc tài – liệu độc đảng hay đa đảng, như TQ, Việt Nam, Malay (độc tài có nghĩa là không có sự chính trị canh tranh thực sự) thì tham gia chính trị cũng có nhiều hình thức, trong đó có những phương diện chính thức và ngày càng nhiều phương diện phi chính thức.Ví dụ, qua mạng. Trong khi đó, ở các nước ‘dân chủ’ cũng có những “triệu chứng” của cái gọi là “hậu dân chủ” – tức là, dù có những thể chế dân chủ chính thức, nhưng những chế độ chính ‘dân chủ’ ngày càng bị các tầng lớp chóp bu đô hộ.

Dù vậy, quá trình nổi lên của những phương tiện tham gia chính trị mới như mạng xã hội, mạng lưới xuyên quốc gia, v.v. có một số tác động đáng kể, không cho phép chúng ta chia ra chính trị chính thức và phi chính thức nữa và bắt buộc ta nhìn kỹ hơn để phân tích bản chất của từng chết độ một.

Đúng là một nghịch lý: dù các chế độ độc tài vẫn yếu về các quyền con người và chính trị và dù các chế độ dân chủ có nhiều dấu ấn của bệnh “hậu dân chủ,” thế nhưng sự tham gia chính trị đang mở rộng và đa dạng hóa. Hiện tượng này là đáng chú ý, nhất là ở các nước như Việt Nam.

Những câu hỏi chính được đặt ra: Những tác động của các công nghệ mới là như thế nào? Những bất bình đẳng xã hội tác động như thế nào đến khả năng tham gia vào chính trị và có được tiếng nói chính trị vào những không gian chính trị khác nhau? Ai tạo ra và điều khiển các chính sách và điếu tiết không gian chính trị? Với sự đột biến của không gian chính trị, làm thế nào để chúng ta hiểu các phương thức tham gia và các đại diện chính trị qua các chế độ chính trị châu Á?

Trong bài tiếp theo tôi sẽ đề cập đến một số vấn đề cụ thể được nêu ra và phân tích và chia sẻ chút về trình bài của tôi về Việt Nâm mà mang tên: “Sự phát triển và hạn chế của phạm vi công cộng ở Việt Nam” (“The development and Limits of Vietnam’s Public Sphere: Wonks, tree huggers, and zombies.”)

Còn tiếp….

JL

Đừng (chỉ) lo về nhân sự

Bất chấp những suy đoán vô tận về việc ‘Đảng ta’ đã, đang, hay sắp chọn ai làm lãnh đạo cho những năm tới – câu trả lời đến phút 89 này vẫn là thật đơn giản: ‘chẳng biết.’ Dù nghe tin đồn về những ‘phương án,’ nền chính trị của Việt Nam vẫn là hộp đen.

Tất nhiên, người dân Việt Nam có nhiều lý do để quan tâm đến vấn đề nhân sự. Song, cũng nên lùi lại vài bước và thấy có những nhân tố khác trong chính trường Việt Nam mà không kém phần nào quan trọng. 

Chẳng hạn, về mặt kinh tế, Việt Nam hiện nay đang có những cơ hội lịch sử để thúc đẩy nền kinh tế. Nhiều chính khách bảo việc tham gia TPP và ký FTA với EU là một “bước ngoặt” cho Việt Nam. Nói thế là quá sớm. Để thực sự có một bước ngoặt phải cải cách thực sự. Rủi ro hàng đầu của đất nước vẫn là không cải cách. Liệu ‘dân ta’ trong và ngoài bộ máy có thành công trong việc đòi BTC cải cách thể chế kinh tế là câu hỏi không kém quan trọng chuyện nhân sự.

Chẳng hạn, về vấn đề nhân quyền, nhận thức về nhân quyền và quyết tâm thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người đã lớn mạnh hơn nhiều trong lòng dân do những nỗ lực của nhiều người cả ngoài lẫn trong nhà nước. Dù còn quá ít, số người trong bộ máy nhà nước coi trọng vấn đề nhân quyền hiện nay là lớn hơn nhiều so với trước đây. Sự thành công của những nỗ lực để đòi BTC và cả bộ máy để chuyển sang cơ chế pháp quyền và coi trọng nhân quyền đúng mức là không kém quan trọng so với vấn đề nhân sự.

Nói Việt Nam cần một đội ngũ lãnh đạo can đảm và có năng lực hơn bao giờ hết là chính xác. Nhưng, tôi thấy dân Việt Nam cũng cần phải tự xem xét lại mình. Người Việt Nam phải thấy ‘chất lượng’ và hiệu quả của một nhà nước cũng phụ thuộc vào vai trò và sự tham gia của người dân. Ở khía cạnh này có một số xu hướng hứa hẹn.

Người dân Việt Nam đang đòi một trật tự xã hội dân chủ hơn, đa nguyên hơn, và minh bạch hơn. Văn hoá chính trị Việt Nam đang trở nên đa nguyên hơn. Không gian để bàn về chính trị xã hội một cách công khai đã mở rộng đáng kể, dù còn hạn chế. Quyết đinh không xây bức tường lửa ở Việt Nam là đáng mừng và dũng cảm. Quyết định của nhiều người chia sẻ chính kiến của họ bất chấp những rủi ro cũng tốt. (Dù còn những người yêu nước còn bị đàn áp.)

Tóm lại, có nhiều nhân tố sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của Việt Nam. Những vị trí cao nhất trong chính trường Việt Nam sẽ ảnh hưởng lớn. Nhưng không phải là nhân tố duy nhất sẽ quyết định tương lai của đất nước. Như vậy, xin đề nghị đừng lo về vấn đề “nhân sự” một cách quá đáng. Phương án hay hơn là lo những gì cần làm để có được một đất nước dân chủ, công bằng, văn minh.

JL
Stockholm, Thụy Điển

Đã đến lúc Việt Nam xét lại chiến lược Biển Đông

Tàu hộ tống chống ngầm HQ-381 lớp BPS-500 của Hải quân Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguồn: Wikipedia, sử dụng trên cơ sở cho phép sáng tạo chung

Tàu hộ tống chống ngầm HQ-381 lớp BPS-500 của Hải quân Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguồn: Wikipedia, sử dụng trên cơ sở cho phép sáng tạo chung

Chuyến viếng thăm Hà Nội tuần này của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình xảy ra đúng lúc Bắc Kinh đang nỗ lực thay đổi hiện trạng trên Biển Đông qua việc xây dựng các đảo nhân tạo. Không một chính phủ nào, ngoại trừ Trung Quốc, công nhận cái gọi là “đường chín đoạn” mà Bắc Kinh đang dùng để đòi hỏi 90% diện tích Biển Đông. Tuy nhiên, hệ quả của nó vẫn là sự gia tăng căng thẳng trong khu vực. Dù sao đi nữa, việc Hoa Kỳ khởi động các cuộc tuần tra để xác định quyền tự do lưu thông hàng hải trên Biển Đông bất cứ nơi nào luật quốc tế cho phép, cùng với việc toà trọng tài ra phán quyết rằng họ có quyền phân xử những đòi hỏi của Trung Quốc, đã khiến cho tất cả các bên còn lại, bao gồm cả Việt Nam, phải cân nhắc lại toàn bộ những xung đột, cơ hội và các nguy cơ hiện hữu.

Học giả David Arase tại Trung Quốc gần đây cho rằng các nước nhỏ hơn, như là Việt Nam hay Philipine, có thể nâng cao vị thế của họ trong cuộc tranh chấp này bằng cách tăng cường sự hợp tác, cùng nhau quyết tâm thực thi pháp luật, đồng thời bảo vệ các chuẩn mực thông thường được quốc tế công nhận. Việc thừa nhận những sự hợp tác, hay bất hợp tác, một cách có chọn lọc cũng có thể gây ảnh hưởng đến nền chính trị trong khu vực. Trong bối cảnh bị chiếu bí bởi một cường quốc, ông David Arase nhận định, các nước nhỏ có thể đề xuất các sự hợp tác liên-chính-phủ để tự bảo vệ quyền lợi và gia tăng lợi ích cho mình, đồng thời tạo ra lợi ích cho các cường quốc.

Trước những diễn biến gần đây, bao gồm các hành động của Trung Quốc trên biển Đông và sự phát triển quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ và các cường quốc khác, Hà Nội nên có những cách tiếp cận chủ động hơn. Việt Nam cần tỏ rõ các đòi hỏi lãnh thổ của mình và chủ động giải quyết các tranh chấp còn lại với Philippine (cũng như với Malaysia, nếu cần), đồng thời kêu gọi cả Indonesia. Cụ thể hơn, Hà Nội nên xem xét việc tự bỏ các đòi hỏi của họ đối với tất cả các bãi đá nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippine, Brunei, và Malaysia trên hai cơ sở sau:

  1. Các quốc gia trên đồng ý rằng tất cả các đảo nhỏ đang tranh chấp đều chỉ là những bãi đá không đủ điều kiện sinh sống, trừ khi được xác định khác đi bởi luật quốc tế, và như thế, chúng chỉ có 12 hải lý lãnh hải chứ không có vùng đặc quyền kinh tế bao quanh; và 
  2. Các quốc gia trên đồng ý nguyên tắc chia sẻ các nguồn tài nguyên nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế của mỗi nước và ngoài vùng lãnh hải của các bãi đá.

Làm như vậy sẽ giới hạn được sự tranh chấp và đưa các giải pháp trong tương lai hướng theo cơ sở luật pháp quốc tế. Không những thế, nó còn chứng tỏ với đồng minh sự quyết tâm hợp tác, ý muốn chia sẻ và niềm tin. Những người Việt nào còn mang nặng định kiến rằng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc về Việt Nam cần có một tư duy thực tế, thực tiễn và mang tính chiến lược lâu dài hơn. Nếu Trung Quốc trở nên mềm mỏng để chấp nhận các nguyên tắc trên thì đó sẽ là một bước đột phá. Bằng không thì Việt Nam và các bên vẫn có lợi với những thay đổi này.

Việt Nam nên giúp hình thành một nhóm liên lạc để gia giảm, và tiến tới triệt tiêu, những mối căng thẳng. Nếu cần, Hà Nội vẫn có thể mời Bắc Kinh tham gia. Nhóm liên lạc này có thể bao gồm các thành viên của ASEAN, nhưng nó không nên là một cơ chế phụ thuộc vào ASEAN vì một số thành viên có rất ít quyền lợi trong cuộc tranh chấp. Thay vào đó, nhóm này nên tập hợp những thành viên ASEAN có tranh chấp, cộng thêm Hoa Kỳ, Úc, Nhật, Ấn Độ, liên hiệp Châu Âu và các nước nào khác có ảnh hưởng.

Hình thành một nhóm như vậy sẽ mang lại nhiều phương tiện để thay đổi hiện trạng, tạo cơ hội chính trị để sửa đổi rộng hơn ngõ hầu mang lại lợi ích quản trị lâu dài, và có thể là giải pháp cho mâu thuẫn hiện thời. Trong trường hợp Bắc Kinh không chịu hợp tác, các nước ASEAN nên nghĩ đến việc phối hợp với các nhóm khác để tuần tra biển Đông. Nương theo các phán quyết của toà trọng tài, nhóm này có thể phối hợp để hỗ trợ các hoạt động giải quyết mâu thuẫn nhờ trọng tài phân xử, dùng các hành động hợp pháp và các biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế để bảo vệ quyền tự do lưu thông, và giảm thiểu các hoạt động phi pháp dựa trên đòi hỏi chủ quyền quá mức.

Mặc dù có những rủi ro nhất định cho việc hình thành một nhóm nằm ngoài ASEAN, không có gì cản trở Việt Nam, Philipine, Malaysia và Brunei gắn kết với nhau để đòi hỏi Trung Quốc tuân theo một số nguyên tắc chung đạt được từ các hoạt động giữa ASEAN và Trung Quốc, hay việc khởi động các biện pháp giải quyết tranh chấp khác, như là cơ chế trọng tài phân xử.

Hà Nội cũng nên đối mặt với Bắc Kinh một cách trực tiếp và công khai hơn. Họ có một cơ hội lớn để làm điều này trong tuần, khi Tập Cận Bình tới thăm. Đây có thể là bước khó khăn nhất về mặt chính trị cho đảng cộng sản Việt Nam, bởi vì quan hệ của đảng CSVN với Bắc Kinh xưa nay thường đi lối cửa sau, qua những đe doạ ngầm hoặc gián tiếp. Việc đổi mới quan hệ Việt-Trung đã trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, và nó sẽ giúp Hà Nội chứng tỏ quyết tâm giải quyết tranh chấp với sự hỗ trợ từ bạn bè quốc tế trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Cụ thể hơn hết, Hà Nội nên yêu cầu Bắc Kinh nói rõ, như chủ tịch Tập đã ám chỉ trong cuộc gặp gỡ tổng thống Obama ngày 25 tháng 9, rằng ý nghĩa của “đường chín đoạn” chỉ là đòi hỏi đối với các đảo trong Biển Đông. Sự minh bạch đó ít nhất sẽ giúp xác định vùng tranh chấp dựa trên cơ sở diễn dịch Công ước Quốc tế về luật Biển. Dù cho Bắc Kinh không trả lời, yêu cầu này vẫn sẽ giúp Hà Nội dễ ăn nói hơn với các bên quốc tế liên quan, nếu cần. Ông Tập gần đây có nói: “Chúng tôi có quyền bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, có quyền hợp pháp và chính đáng đối với các quyền và lợi ích trên biển.” Nhưng ông lại lờ đi chuyện các yêu sách của Trung Quốc không dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế nào cả. Chính xác hơn, ông không dám công nhận rằng Bắc Kinh đã cố tình thay đổi hiện trạng bằng vũ lực và đe doạ.

Bắc Kinh và Hà Nội có các đoàn đàm phán cấp chính phủ để giải quyết tranh chấp lãnh hải, cũng như có thoả thuận về các nguyên tắc giải quyết tranh chấp trên biển mà trong đó có nêu rõ rằng Việt Nam sẽ chỉ thảo luận các vấn đề song phương với Trung Quốc. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đã duy trì quan điểm đúng đắn rằng các nước khác trong vùng cũng có thể — và cũng nên, tham gia vào các tranh chấp đa phương như trong trường hợp căng thẳng mới đây. Trong bối cảnh khó thấy một thoả thuận lớn nào trong tương lai gần, ít có khả năng Hà Nội sẽ quỳ luỵ trước những đòi hỏi của ông Tập.

Xét dòng lịch sử Việt Nam và tình trạng cụ thể hiện tại, việc Hà Nội khẳng định quyết tâm không liên minh với bên thứ ba để chống lại bất cứ nước nào cũng có lý — ở một chừng mực nhất định nào đó. Dù sao chăng nữa, một mối quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc là điều rất có lợi cho Việt Nam. Nhưng không nên vì thế mà Hà Nội phải tránh né một vai trò chủ động hơn trong việc định hình một cấu trúc mới cho khu vực. Tương lai dân tộc Việt Nam đang nằm trên bàn cân.

Jonathan Đ. London và Vũ Quang Việt
Hồng Kông và New York

Xem bản nguyên (tiếng Anh) trên blog của Viện Chiến lược và Quốc tế học (Hoa Ky)
Bản tiếng Việt do Hoài Vũ và Ian Bui đã dịch