Để vượt qua cơn dịch bệnh

Gặp Ông Bà, Xe đông lạnh, và nhân viên y tế HN

Chỉ trong vòng vài tuần, virus corona đã phát triển từ một vấn đề xa xôi “ở đằng kia” thành đại dịch toàn cầu mà đang gây ra một cuộc tàn sát trên một phạm vi khó tưởng tượng. Tầm với của nó đang vượt xuyên qua các nước và ngày càng thâm nhập vào cộng đồng và từng gia đình của chúng ta. Đến ngày 31/3, hơn 40.000 người đã thiệt mạng vì virus và con số đó chắc chắn thấp hơn so với con số thực tế. Hơn nữa, những điều tệ hại nhất vẫn còn chưa đến. Rất tiếc mà thật: Bão này mới bắt đầu.

Xét trên phạm vi toàn thế giới, từ các màn hình của chúng ta và từ phòng khách của mình, chúng ta trải nghiệm sự lây lan của virus và cái chết trong một cuộc diễu hành bất tận của biểu đồ và đoạn phim video, bản tin, ghi hình, và chương trình phát sóng. Chúng ta được xem, nghe, và đọc bao nhiêu phát biểu và tuyên bố của nhiều lãnh đạo và cơ quan công quyền.

Có lý do để phẫn nộ mà sự phẫn nộ không thể giúp giải quyết vấn đề trước mt

Không may cho thế giới mà lại không bất ngờ ở một số nơi – nhất là nơi chính là nguồn gốc của đại dịch– Trung Quốc – và nơi chính là nước mà đến nay có số ca nhiễm nhiều nhất – Mỹ – có những nhà “lãnh đạo” có hành vi thiếu trách nhiệm. Từ việc kiểm duyệt, phủ nhận, bóp méo thông tin, phản ứng quá chậm trễ, và thiếu trách nhiệm, họ đã gây thiệt hại cực lớn cho chính nước của mình và toàn thế giới.

Nghĩ gì về chính trị mà giờ đây chúng ta mới được nhắc lại, trách nhiệm hàng đầu của công quyền và các nhà lãnh đạo chính là để đẩy mạnh và giữ an toàn và lợi ích của công dân. Trong việc này cả Tập Cận Bình lẫn Donald Trump đã thất bại và mãi phải chịu trách nhiệm vì vai trò của họ trong một thảm hoạ lớn nhất của nhân loại từ xưa đến nay.

Khá là mỉa mai khi hai nhà lãnh đạo muốn được xem là mạnh nhất thế giới, giỏi nhất thế giới, và chắc chắn kiên cường nhất thế giới lại đe doạ lợi ích của toàn thế giới. Việc nhân loại phải chịu đựng hành vi thiếu trách nhiệm của hai nhân vật này quá là đáng tiếc. Nhưng rõ ràng phẫn nộ cả ngàylẫn đêm về vấn đề này không phải là một phản ứng hứa hẹn.

Đúng vậy. Trong bối cảnh này, một trong những mặt đáng lo ngại nhất nếu từng hiện diện của bệnh dịch mới này là các tác động gây mất phương hướng của nó. Nói một cách đơn giản, phạm vi, mức độ và sự phức tạp của đại dịch này là quá lớn để hiểu biết riêng từ một góc độ hoặc quan điểm nhất định nào. Nhiều khi, ta cảm nhận các thách thức phía trước chúng ta thực sự là áp đảo.

Ba khía cạnh của khủng hoảng

Năng lực của chúng ta để đề cập những đe doạ lớn của đại dịch và giải quyết các vấn đề liên quan phụ thuộc vào khả năng phục hồi của chúng ta. Chúng ta hiện nay, tất cả chúng ta, đang ở trong một cuộc đấu tranh sinh tử. Và trong đấu tranh này, sự sống sót của chúng ta, của gia đình chúng ta, của mọi  cộng đồng của chúng ta, của mọi đất nước của chúng ta phụ thuộc vào khả năng điều khiển hành vi của chúng ta theo cách xây dựng.

Làm được như thế là không hề dễ dàng, nhất trong một thời điểm mà có vẻ bầu trời và ý thức của chúng ta về điều bình thường đang sụp xuống xung quanh ta. Nếu sống ở các địa phương hay biết ai đó làm trực tiếp trong ngành y thì biết nói như thế không phải là phóng đại.

Trong thời điểm này, điều quan trọng nhược bằng khó khăn là chúng ta có thể vượt qua một cách ổn định, hiểu rõ những gì đang xảy ra trong đất nước, cộng đồng, và trong cuộc sống cá nhân và gia đình để xác định và theo những cách mà có thể đóng góp cho xã hội và bản thân chúng ta. Phản ứng như thế hiệu quả hơn là sự thất vọng hoảng sợ. Để làm được điều này, có vẻ là, cần chú ý đến ít nhất ba khía cạnh của cuộc sống chúng ta.

Trước hết nhất là khía cạnh cá nhân và gia đình. Trong bối cảnh dịch bệnh toàn cầu, tính cấp thiết của hành động của địa phương có ý nghĩa mới. Hành vi cá nhân có trách nhiệm là một yêu cầu cho sự sống sót của chúng ta và phải được thúc đẩy và nếu cần thiết phải được bắt buộc cho hết khả năng tốt nhất của chúng ta.

Một khía cạnh thứ hai và có lẻ thách thức hơn nhiều là khía cạnh cộng đồng, cái mà biểu thị giao thiệp của chúng ta với những người trong và xung quanh nơi làm việc và nơi ở. Trong hàng chục năm, chúng ta đã chứng kiến sự mất mát của ý thức và thực tế của cộng đồng.

Ngày hôm nay, sự tồn tại của chúng ta tùy thuộc vào việc phục hồi ý thức này, nuôi dưỡng nó và đưa vào sử dụng tốt, thậm chí nếu việc diễn đạt nó đòi hỏi các hình thức mới và phương thức mới về phối hợp xã hội. Một phần của cộng đồng là sự đồng cảm và khả năng hành động vì lợi ích công cộng. Trong một thời đại siêu toàn cầu hóa và sự ẩn danh vô cảm, sự an toàn của chúng ta đòi hỏi chúng ta cần phục hồi lòng nhân đạo của mình một cách cấp thiết.

Có lẽ khía cạnh khó khăn nhất nhưng tuy nhiên quan trọng nhất của đại dịch là khía cạnh chính trị của nó, gồm cả ở địa phương lẫn trong nước và trên phạm vi quốc tế nữa. Như một nhân viên y tế trên tuyến đầu ở Tây Ban Nha đã lưu ý, “Đây không chỉ là một cơn dịch bệnh tật, mà còn là một cơn dịch chính phủ thực sự kém cỏi.” Đây có rất có thể là sự đánh giá thấp của thời đại chúng ta.

Trách nhiệm đối với bản thân, cộng đồng, và nhân loại

Đối với trách nhiệm về đại dịch này, chúng ta biết khá rõ một số điều mà không nên quên nhưng phải tìm chuyển hướng khác một cách có trách nhiệm với chính mình.

Những gì biết rõ không bao giờ quên được. Đại dịch bắt đầu với sự vô trách nhiệm cực kỳ của những kẻ cai trị độc đoán của Trung Quốc trong việc dung túng các điều kiện tạo thuận lợi cho bệnh tật cả 17 năm sau SARS-1.  Hơn nữa, họ có hành vi đàn áp thông tin, thúc đẩy một cách hiệu quả nhược bằng bị động sự lây lan của nó  trong hai tháng, khi du khách bị nhiễm đi lại khắp hành tinh.

Trên khắp châu Âu, châu Mỹ, và chẳng mấy chốc phần còn lại của thế giới, khủng hoảng đang trở nên trầm trọng hơn bởi các chính phủ thiếu trang bị rõ rệt và thường vô trách nhiệm cực kỳ. Điều oái ăm nhưng không ngạc nhiên là người đứng đầu của quốc gia tư bản lớn mạnh nhất, quyền lực nhất, giàu nhất của thế giới lại bất lực một cách chết người như thế trong phản ứng của mình.

Nhưng phải chuyển hướng. Khi cường độ của cuộc khủng hoảng gia tăng, chúng ta ngày càng biết đến các câu chuyện bi thảm của những người trên tuyến đầu và của những người có người thân mà mạng sống của họ bị rút ngắn một cách nhanh chóng, mà ít có cơ hội nói lời tạm biệt. Từ mô tả của nhân chứng, bệnh viện của chúng ta đang chứng kiến tần suất gia tăng của cái chết và căn bệnh đang làm kinh hoàng thậm chí các chuyên gia y tế dày dạn nhất.

Về mặt cá nhân và với tư cách là thành viên của một gia đình hay một cộng đồng, chúng ta cần tận tâm chăm sóc những người chúng ta yêu thương và quan tâm đến và những người yêu thương và quan tâm đến chúng ta bằng cách tối đa hóa các biện pháp phòng ngừa bệnh này.

Chúng ta cũng cần mở rộng ý thức cộng đồng đã bị suy giảm một cách bất thường của chúng ta càng nhiều càng tốt, bằng cách tìm ra các cách thức hỗ trợ những người sống và làm việc chung quanh ta với mục tiêu thúc đẩy phúc lợi tập thể.

Thừa nhận rằng việc này là khó. Nhưng chúng ta cần tìm ra cách thức nhận biết những người dễ bị tổn thương xung quanh ta liên quan đến tuổi tác, tình trạng kinh tế xã hội, và các đặc điểm khác. Kết hợp giãn cách xã hội với cộng đồng yêu cầu tính sáng tạo.

Ở các quốc gia chúng ta đang thấy nhiều thử nghiệm trong hỗ trợ lẫn nhau, từ mảnh giấy đỏ dán trên cửa sổ để ra hiệu đang cần sự hỗ trợ đến các nhóm trò chuyện láng giềng và nhiều hình thức họp mặt xã hội. “Thích” và lừa phỉnh trên mạng sẽ không giúp được gì. Trong khi chúng ta cần giãn cách xã hội, chúng ta cũng cần tiếp cận những cách kết nối mới để về sau chúng ta có thể có nền tảng để phục hồi và xây dựng một tương lai tốt hơn.

Cuối cùng, hợp tác một có trách nhiệm với cơ quan công quyền là thiết yếu, cũng như từ chối hợp tác hay lên tiếng một cách đúng mức  trong những trường hợp mà các  chính sách lạm dụng niềm tin của xã hội trở thành một mối đe  doạ với sức khỏe công.  Rõ ràng trong một đại dịch không có chỗ cho sự kiên nhẫn với những người vô trách nghiệm. Làm lây lan virus không phải là quyền của bất kỳ ai dù là chính phủ thiếu trách nhiệm hay những cơ quan thương mại mà sẵn sàng hy sinh mạng sống vì lợi nhuận.

Ai biết được thế giới sẽ như thế nào sau khi cơn bão này đi qua. Ai biết cộng đồng của chúng ta sẽ như thế nào. Và thậm chí gia đình của chúng ta và chúng ta. Điều chắc chắn là chúng ta sẽ cần phải tái xây dựng nền kinh tế và khiến nó phục vụ nhân loại.

Vì vậy, trong lúc này chúng ta cần phát triển các năng lực và khả năng phục hồi mới. Một phần của điều này, tôi tin, là có tư duy về ba khía cạnh khác biệt của cuộc khủng hoảng tập thể này: cá nhân và gia đình, cộng đồng, và chính trị trong nhiều phạm vi. Để sống tốt, chúng ta thỉnh thoảng nên nghỉ ngơi cho sức khỏe cảm xúc và sự phục hồi, và giữ lấy những điều tốt đẹp nhất trong cuộc sống của chúng ta.

Cái quan trọng nhất trong cuộc sống chính là những mối quan hệ và kết nối của chúng ta với những người chúng ta yêu thương và quan tâm đến. Qua khủng hoảng này chúng ta phải lấy lại tư duy cộng đồng và nỗ lực tập thể vì cuộc sống của chúng ta cũng phụ thuộc vào chính điều đó.

JL, Leiden, Hà Lan

Jonathan D. London là Phó Giáo sư Kinh tế Chính trị tại Viện Nghiên cứu châu Á, Đại học Leiden, ở Hà Lan. Các cuốn sách gần đây nhất của ông bao gồm Phúc lợi và Bất bình đẳng ở Đông Á Đang Thị trường hóa, xuất bản năm 2018 và Cẩm nang Routledge về Việt Nam Đương đại, sắp xuất bản trong năm 2020. London có hơn 20 năm kinh nghiệm sống và làm việc ở châu Á. Ông sinh ở Boston và lớn lên ở Cambridge, Massachusetts. Ông có bằng Tiến sĩ về xã hội học từ Đại học Wisconsin-Madison.

 

Hiền Xuân Ngô dịch từ bài viết của GS Jonathan London. 30 March 2020

 

Share Button

Thất bại trọn vẹn của các hệ thống y tế phương Tây: Nguồn gốc và Hậu quả

Dù giầu bao nhiêu, các nước “tư bản tiên tiến” của phương Tây hiện nay ko có năng lực xét nhiệm có thể vì không có một nước Tây nào mà đã qua SARS, qua MERS v.v. và, do đó, đã còn thiếu tâm nhìn…

Vì thế, trong bo nhiêu năm qua từ SARS và MERS chính phủ của các nước này đã không ưu tiên cho một hệ thống xét nhiệm, chống dịch hữu hiệu. Không may cho họ (và sắp tới cho nhiều nước khác trên thế giới, nhất là các nước nghèo), không thế nào có được một hệ thống xét nhiệm, chống dịch hữu hiệu trong vòng mấy tháng.

Việc các hệ thống y tế trên thế giới bị thương mại hóa quá nhiều, chạy theo tiền cũng hạ thấp hiệu quả, dẫn đến tình trạng “Ko điều trị được rồi, Chú về nhà chờ xem.”

Ghi chép: Mới biết sáng nay gia đình hàng xóm trên con phố rất nhỏ của chúng tôi có virus. Chúng tôi (gia đình tôi) thấy họ mỗi buổi sáng và mỗi ngày trong năm qua cửa sổ của hai ngôi nhà, chỉ cách nhau vài mét. Nhóm whatsapp nhỏ của bọn chúng tôi đang hỗ trợ họ. Sẽ không ngạc nhiên nếu tôi / chúng tôi nhận được nó sớm. Hãy xem nào.

JL, Hà Lan

Share Button

Từ Nghệ An về Anh Quốc… về Việt Nam

Vào đầu tháng 7 vừa rồi tôi đã có dịp làm việc tại Nghệ An, trong một công trình nghiên cứu tìm hiểu về hệ thống giáo dục, chủ yếu tập trung vào những vấn đề liên quan đến quản lý giáo dục.

Trong quá trình nghiên cứu tại Nghệ An (ở thành phố Vinh mà một số huyện) tôi được nghe một số nhận xét của người địa phương về những thách thức của thanh niên Nghệ An đối với giáo dục cũng như sau ra trường.

Vào ngày 19 tháng 10 vừa rồi tôi và gia đình có lên tàu hoả đi du lịch vài ngày tại Anh Quốc. Từ nhà đến TP London chúng tôi có đi qua nước Bỉ và Pháp.

Trên tàu lửa Eurostar cao tóc tại Calais Pháp tôi chỉ cho hai con của tôi, mới 12 tuổi và 10 tuổi, các hàng rào và dây thép gai bao quanh đường ray gần lối vào Eurotunnel, và hỏi hai cháu sao có nhiều như vậy….Sau đó tôi có giải thích cho các cháu biết có nhiều người muốn đi Anh quốc kiếm sống, sẵng sàng chịu rủi ro cao để có cơ hội kinh tế… hai con tôi nghe bố giải thích cũng ấn tượng dù có thể khó hiểu ý đầy đủ……..

Không rõ lúc đó 29 người Việt Nam đã tập trung để lên xe tải ở Bỉ chưa?

Vào ngày 23 tháng 10, lúc tôi cùng gia đinh đang lên tàu biển tại TP Hull (Anh quốc) để đi về Rotterdam (Hà Lan), tôi có đọc tin đầu tiên về vụ 39 thi thể được phát hiện trên một xe tải. Ngay lập tức tôi đã lo về khả năng trong số người không may này đã có người Việt Nam, tôi cứ chờ thông tin, đọc báo buổi sáng sớm…

Trong hai hôm vừa qua đã dần biết rõ hơn về thảm hoạ này… trong đó có việc nhiều người trong số người trẻ mất là người Nghệ An, thậm chí có người từ Vinh và hai huyện tôi đã qua.

Những nhà phân tích về di dân và buôn người hãy nêu có những yếu tố ‘hút’ và những yếu tố ‘đầy’ sau di dân và buôn người.

Ở Việt Nam ai cũng biết có những vấn đề nhất định đối với thị trường lao động dẫn đến việc nhu cầu người dân đi làm việc ở nước ngoài. Ai ở Việt Nam cũng biết rằng nhà nước Việt Nam có “nhiều chính sách” giải quyết việc làm, đẩy mạnh “tăng trưởng kinh tế bao trùm” v.v. Ai ở Việt Nam cũng biết về vấn đề thiếu cơ hội kinh tế cho người trẻ và những cảm nhận rằng ở Việt Nam không có ô, thiếu phong bì, thiếu lý lịch COCC thì khó có thể tìm một việc làm tốt. Không có giải pháp đơn giản nhưng không có nghĩa là chúng ta nên bỏ qua, coi thường vấn đề này…

Đọc thêm tin về vụ này, xem ảnh của những người trẻ đã mất, và những ảnh của các gia đình tan vỡ thì buồn vô cùng.

Hôm qua hỏi con trai (12 tuổi) có biết gì về vụ này, thì con bảo là có (vì báo được giao đến nhà hàng ngày). Đến giờ tôi đã chưa nói hay giải thích cho con tôi 39 người này đã là người Việt Nam và trong đó có nhiều người đã là người trong một địa phương tôi qua mua hè vừa rồi. Không biết nói gì.

Gia đình chúng tôi đi Anh quốc về an toàn, thoải mái, không có rủi ro, trong khi 39 người trẻ đi mà…

Hôm qua đọc tin CA VN có sang Châu Âu lấy tốc của người mất để phân tích và xác nhận. Sau đó không rõ người dân Việt Nam nên hay có thể làm gì.

Tôi biết việc di dân, vượt biên, và buôn người là một hiện tượng phức tạp vì có yếu tố tự nguyện cũng như lạm dụng. Thực sự không biết nói gì. Tạm chỉ xin chia sẻ kinh nghiệm cá nhân của tôi, trong khi nghĩ đến người mất và các gia đình của họ.

JL

Share Button

Đừng quá buồn, hãy nhìn rõ

Hiểu nhưng lại hơi bất ngờ khi thấy “hơn vài người” dân Việt Nam nuối tiếc v/v đàm phán Kim-Trump đã chưa hay không mang lại kết quả gì, nếu ko muốn nói là thất bại.

 Lo dân chúng toàn cào nhìn về Việt Nam và thấy thất bại hả? Lên google thấy 164 triệu kết quả khi đánh “Vietnam Trump Kim Fail” vào v.v.?
 
Lo gì?
 
Việc Việt Nam đã tổ chúc sự kiện này cũng có lợi nhất định cho Việt Nam rồi. Những người lạc quan có thể nói rằng thật tốt khi họ gặp mặt đối mặt.
 
Ít nhất, sức mạnh mềm, dành tiếng của Việt Nam đã có một sự gia tăng nhỏ và “không phải là không đáng kể.” Đó là tin tốt cho Việt Nam và những nỗ lực của nhà nước Việt Nam đóng góp cho trật tự an ninh Đông Á dựa trên các nguyên tắc đối thoại và hợp tác quốc tế.
 
Về kết quả của hội nghị, thì cũng có mặt thành công chủ quan. Hãy nhớ đây là hai nhà lãnh đạo cực kỳ thèm muốn sự chú ý và họ đã nhận được cái đó.
 
Đồng thời xin các bạn nhớ hai nhân vật này là ai.
 
Cả hai người đều rất thiếu sự quan tâm đến nhân loại và phúc lợi của dân thường trong cả hai đất nước mà họ đang cai trị/nắm quyền. Cả hai người đều là con nít khùng vĩ cuồng mà đạt mình trên luật, trên hết. Cả hai đều có hại cho thế giới.
 
Việc Bắc Triêu Tiên (theo các nhà phân tích) có hơn 50 qua bom hạt nhân và Mỹ còn bị Ông lửa đảo nắm quyền đã năng cao rui ro lớn cho nhân loại và Đồng Á.
 
Ai cũng ủng hộ những nỗ lực để giảm cẳng chứ. Và riêng tôi không có vấn đề gì lắm về quyết định gặp nhau. Song, đừng cho phép mình bị bịp khi nghe những nhân vật này khên nhau, thậm chí khen Việt Nam.
 
Chắc nhũng nhà lãnh đạo của ĐCSVN đã ăn mừng khi nghe những lãnh dạo nước ngoài khen Việt Nam vậy. Ừ, đúng rồi. Sự phát triển của Việt Nam cũng ấn tượng về nhiều mặt, từ tăng trưởng GDP theo đầu người và mức sống (dù mất đồng đều) dần tăng …
 
…..cho đến khủng hoàng môi trường trọng nước và số vụ án cướp đất và hối lộ và một nền giáo đục khá là thành công về một số mặt (so với các nước cùng thu nhập_ và cực kỳ phúc tạp và chưa được về một số mặt khác. Sự phát triển là một quá trình phúc tạp và Việt Nam còn đang tìm đường đi tốt nhất.
 
Việt Nam tự quyết định đường đị thì tất nhiên là việc tốt, nếu đường đi đó thực sự phản ánh nguyện vọng của người dân.
 
Và Việt Nam muốn phát triển một cách mạnh hơn và năng cao dành tiếng và vị trí trên thế giới chắc cứ nỗ lực đề đóng vai tích cự trong chính trường khu vực và thế rồi. Ủng hộ thôi.
 
Trong khi đó, khuyên mong Việt Nam bác bỏ tất cả những giá trị của Trump Kim này và ôm lấy những giá trị thực sự xưng đáng với một nước văn minh dân chủ: chính trị đa nguyên và nhân quyền cho mọi người, công bằng xã hội v.v. Như thế mới thực sự dành sự tôn trọng của nhân loại, trong và ngoài nước. Đúng chưa?
 
JL, Leiden
Share Button

Người ơi, Xin lỗi Ông sắp về

Các bạn thân mến,
 
Sau gần cả hai năm im ắng…. kể từ ngày Ông trùm mị dân phát xít Donald Trump bước vào Nhà Trắng và bắt đầu tấn công những thể chế, giá trị và cả người dân Mỹ, blog Xin Lỗi Ông này sắp trở lại như trước đây với những bài viết ra hàng tuần chất lượng khá.
 
Thực tình mà nói, có ba lý tôi làm tôi tạm ngừng viết trong thời gian vừa rồi.
 
Lý do thứ nhất liên quan đến chính những điều vừa nêu đã làm tôi thực sự mệt mỏi, chán nản với tình hình chính trị ở Mỹ và khá là thất vọng về tình hình tại Việt Nam là hai nước tôi quan tâm nhiều nhất. Bên Mỹ chúng ta đang chứng kiến một cơn khủng hoảng chính trị xã hội chưa từng thấy….
 
Chia sẻ nhé: Tôi thực sự ko quan tâm mấy đến những người dù ở Ba Đình Hà Nội hay quận Cam Cali ngây thơ đến mức không thấy bản chất của Trump là quá tệ và nguy hiểm, những người dễ bịp đến mức nhầm lẫn tăng trưởng kính tế với tiến bộ xã hội. Nền kinh tế của nước Đức quốc xã cũng đã có tăng trưởng …
 
Để nhìn nhận sự suy thoái của nước Mỹ, người ta không cần nhìn vào những thể chế chính trị vốn đã thiếu dân chủ đang ngày càng bị đồng bọn của Trump tấn công … hoặc những thay đổi trong nền kinh tế đang làm nợ quốc gia tăng vọt… hoặc những căng thẳng xã hội mà chính ông Trump đang tranh thủ trong chiến lược phát xít của mình.
 
Hãy nhìn vào ngay trong sự tăng trưởng hiện thời: Cho đến năm nay, lần đầu tiên kể từ khi đại dịch cúm cách đây một thế kỷ tràn qua nước Mỹ (1915-1918), tuổi thọ trung bình của người dân Mỹ đã giảm 4 năm liền. Đồ thị dưới đây cho thấy sự lạc quan của dân Mỹ cũng giảm mạnh: tỷ lệ tự tử và tỷ lệ chết do ma túy đang tăng — giống giống Nga trong đại suy thoái những năm 90.

 

Trong khi đó, ở Việt Nam, chúng ta đã chứng kiến những diễn biến phức tạp mà tôi sẽ bàn ở những bài viết sau. Nhìn chung, khả năng Việt Nam sẽ sắp có những thay đổi về thể chế đã giảm. Việc U23 đá giỏi thế chỉ nâng cao tinh thần một chút. Liệu bao giờ chúng ta có dịp hô vang “Việt Nam Việt Nam Việt Nam” vì những thay đổi tích cực trong lĩnh vực xã hôi, giáo dục, y tế, nhân quyền, v.v. và v.v.?
 
Hy vọng là sớm. Hãy bàn sau….
 
Lý do thứ hai tôi không lên mạng và viết nhiều như trước là do công việc của tôi quá tải, nhất là tôi vừa chuyển sang một trường đại học mới, một vị trí mới, một đất nước mới… là Hà Lan…. Ở ĐH Leiden này (thành lập năm 1575 – cả 444 năm), tôi có 6 lớp mới trình độ cử nhân và thạc sĩ mà tôi phải lên giáo trình và dậy từ đầu, hai cuốn sách phải hoàn tất và một công trình nghiên cứu lớn về giáo dục Việt Nam.
 
Báo tin vui với các bạn, một trong hai cuốn này đã xuất bản rồi, cuốn thứ hai thì sắp và nghiên cứu về giáo dục Việt Nam cũng đang tiến triển thuận lợi. (Ừ thì tôi cũng biết về vụ Hậu Giang, bạo lực học đường v.v… nhưng những chủ đề này cũng sẽ bàn tiếp sau).

Sách Welfare and Inequality in Marketizing East Asia xb 2019 Palgrave MacMillan

Lý do thứ ba, các bạn thân mến ơi, là còn nhiều câu hỏi trong đầu mà tôi còn chưa thể trả lời, nhất về ý nghĩa của cuộc sống trong một thế giới mà, nhiều khi, có vẻ đã bị những mafia quốc gia thống trị… trời ơi sao mà nhân loại ngu dốt đến mức thế này?
 
Thế nhưng, giờ đây, tôi thấy im lặng không còn là một trạng thái tôi nên hay muốn duy trì… Hai năm là đủ rồi các bạn ơi….!!!
 
Trong hai năm nay tôi đã găp nhiều người online và trực tiếp hỏi tôi: “Sao anh không viết bài như trước?”; “Bao giờ anh sẽ lại viết bài?” v.v. Mới tối hôm qua, ở một sự kiện bên Hà lan, một người gốc Việt đã hỏi tôi như thế.
 
Đúng vậy, hai năm là đủ rồi các bạn ơi!
 
Hy vọng trong những tuần tới các bạn sẽ thấy những bài của tôi… hy vọng sẽ có những bài hay…. và hy vọng – dù đồng ý hay không với những quan điểm quá đúng và chính xác của tôi – những nỗ lực của tôi sẽ góp phần nào đó để chúng ta có một dư luận hay hơn…
 
JL, Leiden, Hà Lan

 

Share Button

Tạm thắng tạm thua

Leiden, Hà Lan — Thuật ngữ ‘tin buồn’ ở Việt Nam thường dành cho những ngày mà một ai đó qua đời trong một gia đình.

Song, thuật ngữ “tin buồn” này có vẻ phản ánh tâm trạng của xã hội Việt Nam hôm nay, sau mấy tuần lễ căng tẳng, sau những biểu tình (cả ôn hòa và hỗn loạn) về “chuyện đặc khu” mà vốn xuất phát từ sự nghi ngờ và phẫn nộ dễ hiểu của người dân bị chỉ coi là “một hiểu lầm,” và cuối cùng sau mới hôm nay, khi các đại biểu lựa chọn đã thông qua luật “an ninh mạng” mà bị phản biện là luật bịt miệng và ít nhất gì nữa có vẻ là không xứng đáng với một đất nước văn minh. Việt Nam hôm này là mệt thật.

Nhưng đừng quá vội để đánh giá. Còn quá sớm để biết ý nghĩa của những sự kiện này.

Từ góc nhìn của tôi, có vài điều quan trọng mà không nên bỏ qua:

1. Sau hơn một năm trời tương đối im lặng, tinh thần yêu nước, yêu minh bạch công lý lại dấy lên, phản ánh khát vọng của người dân Việt Nam như đã mong;

2. Đang rõ hơn bao giờ hết mà bằng một cách nào đó, quy trình và cách ra các quyết định chính trị ở Việt Nam rất nên được xem xét lại, vì một quy trình thiếu minh bạch không chỉ là nguy hiểm cho tương lai của đất nước mà rất kho được tin nhiệm của người dân – ở nước nào cũng thế thôi…

3. Việc có nhiều biểu tình đã xãy ra mà chủ yếu là ôn hòa ngoài một số người đã rất tiếc rơi vào bạo lực bao hàm quyền biểu tỉnh ôn hòa của người dân Việt Nam nên được bảo vệ và để mạnh và luật biểu tình là một việc nên làm ngay;

4. Người dân Việt Nam sẽ không chịu sống theo ảnh hưởng thiếu minh bạch của bất cứ nước nào dù thông qua bao nhiêu luật lệ.

Và chắc còn nhiều điều khác nữa…

Tóm lại, hôn nay tâm trạng của Việt Nam là không vui vì một lần nữa đất nước quý báo này đã bị rơi vào một tình trạng không hay.

Tiếc nhất là những sự kiện đã tiếp diễn – từ chuyện đặc khu cho đến những biểu tình căng thẳng và luật “an ninh” mạng- hoàn toàn tránh được nếu theo vài nguyên tắc thật đơn giản: xin đừng coi ai là trẻ con, hãy tôn trọng quyền của công dân để có thông tin kịp thời và minh bạch, và hãy bảo vệ và đẩy mạnh quyền con người mà vốn đã là ở trung tâm của phong trao giải phóng đất nước Việt Nam. Ít nhất đó là một giả thuyết.

Dạo này tôi đang nghiên cứu chủ yếu về giáo dục Việt Nam. Tất nhiên Quan điểm trên là quan điểm cá nhân của một người quan sát và nghiên cứu về Việt Nam mà thôi.

Việc viết bài này chủ yếu là vì nghi ngờ như mọi người.

JL

 

Share Button

Biểu tình ở Việt Nam: Đâu là gốc?

Trong ba ngày qua, người Việt Nam đã thấy một hiện tượng khá hiếm trong lịch sử của đất nước mình, khi có những cuộc biểu tình với nhiều quy mô khác nhau đã xãy ra trên phạm vi cả nước.

Những cuộc biểu tình trên rất khó để đánh giá ý nghĩa của nó, vì đa số người dân tập trung vào những điều đang diễn ra trên mặt đường phố.

Điều đó dễ hiểu. Ở nước nào cũng vậy.

Song, người Việt Nam phải tìm cách để xem và hiểu những sự kiện này từ nhiều góc độ và cũng phải tìm các gốc của vấn đề để phân tích và giải thích nó.

Nhìn chung, việc biểu tỉnh ở Việt Nam ngày nay – dù dữ dội đến mức độ nào – là không bất ngờ lắm. Dư luận Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng, nhiều người đang rất búc xức về nhiều vấn đề, trong đó có hai tranh luận chính là về chuyện Đặc Khu/99 năm và chuyện Dự Luật An ninh mạng.

Sáng thứ hai, Quốc Hội Việt Nam đã một lần nữa thông báo lùi việc thông qua mấy điều luật đang gây tranh cãi này vào một dịp khác. Liệu số phận của Luật An ninh mạng sẽ được lùi đến bao giờ cũng chưa rõ?

Là một người quan sát và quan tâm về sự phát triển chính trị xã hội và kinh tế của Việt Nam, hy vọng của tôi là những gì đang tiếp diễn có thể tạo điều kiện cho người Việt Nam suy ngẫm về nguồn gốc của sự căng thẳng mà chúng ta đang thấy.

Tất nhiên có nhiều quan điểm khác nhau. Đến nay, quan điểm chính của Nhà nước Việt Nam có vẻ là những căng thẳng mà chúng ta đang thấy chủ yếu là ở chỗ có quá nhiều người hiểu lầm về nội dung và mục đích của những chính sách dẫn đến lòng yêu nước của nhiều người bị lợi dụng, làm cho họ xuống đường.

Quan điểm này thấy rõ trong những bài báo mà báo chí nhà nước đã cho đăng. Theo quan điểm này, việc hỗn loạn như thế xãy ra là một trong những lý do để có Luật An ninh mạng. Dù quan điểm rất dễ hiểu, tôi lo quan điểm này trái ngược với Hiến pháp của Việt Nam về quyền con người, và ngược với lòng dân Việt Nam.

Vậy, tôi đề nghị gì?

Trước hết tôi đề nghị những ai quan tâm đến sự phát triển của Việt Nam thấy rõ quá trình làm ra những dự luật, quyết định lớn của Việt Nam, dù vốn đã được ‘lịch sử giao cho Đảng bộ,’ hiện nay phải thừa nhận là có vấn đề.

Dù có quan điểm như thế nào, chúng ta không nên bỏ qua một thực tế rất rõ: khi những quyết định lớn mà ảnh hưởng đến an ninh, kinh tế, xã hội Việt Nam một cách thiếu minh bạch thì người dân không dễ gì chấp nhận nó. Những quyết đinh lớn phải được thảo luận và phân tích một cách cởi mở mới dành được sự ủng hộ đích thực của xã hội.

Vậy, trong lúc căng thẳng chúng ta phải bình tĩnh. Phải xem đâu là vấn đề sơ bộ, đâu là gốc rễ của vấn đề.

Sau hơn 20 năm nghiên cứu về Việt Nam tôi thấy người dân Việt Nam muốn đất nước của mình phát triển mạnh mẽ một cách bền vững hơn. Họ muốn sống trong một xã hội minh bạch hơn, có một trật tự xã hội công bằng và an toàn, xứng đáng với giá trị dân xã của đất nước.

Tôi lo cứ bảo “những quyết định nhà nước là làm theo đúng quy trình” là chưa đủ. Có vẻ cả quy trình phải được cải cách chứ? Việc cải cách quy trình đó thế nào là câu hỏi lớn và chỉ cho người Việt Nam quyết định.

Cho đến cuối ngày thứ hai (ngày 11 tháng 6 năm 2018) lúc mà tôi viết mấy dòng này, Việt Nam vẫn còn căng thẳng. Biểu tình vẫn còn. Cả nước Việt Nam và thậm chí toàn thế giới đang quan tâm. Tôi cũng quan tâm và mong người Việt Nam sáng suốt, cẩn thận, và an toàn….

Là một nhà nghiên cứu, tôi mong đóng góp một cách xây dựng cho sự phát triển của Việt Nam, xin đề nghị cũng không vội thông qua Luật An ninh mạng. Làm thế cũng có thể hiểu lầm gốc của những vấn đề đang gây căng thẳng ở Việt Nam trong những ngày qua.

 

Ngày 11 Tháng 6 2018
Leiden, Hà Lan

 

Share Button

Sống với ý nghĩa

Chúng ta chỉ sống một lần. Và như Marx đã viết, dù chính chúng ta tạo ra lịch sử, chúng ta làm thế dưới nững điều kiện không phải là do chúng tạ chọn lựa mà dưới những bối cảnh xuất phát từ lịch sử.

Vậy không bất ngờ mà nhiều khi, chúng ta thấy bất tiện. Thấy những nỗ lực khó có thể có tác động gì. Làm chủ của đời sống của chính mình là cực khó rồi. Hàng ngày chúng ta phải đối phó với những trở ngại nhất định. Chưa nói gì về việc tác động tới và thay đổi những bối cảnh xã hội mà chúng ta sống. Song, vẫn không nên đổ lỗi cho chính chúng ta.

Đặc trưng của những trở ngại chúng ta phải đối phó tuỳ theo địa điểm và thời điểm cũng như điều kiện của mọi đơn vị, dù đơn vị đó là một cá nhân xã hội, một tổ chức, thậm chí một xã hội. Những trở ngại ở xã hội A là khác xã hội B. Những trở ngại của nhà X là khác nhà Z. Trong khi đó, có những vấn đề nội và ngoài. Và những trở ngại mà chúng ta thấy thay đổi liên tục.

Từ xưa cho đến nay, dân thường phải nỗ lực để làm ăn. Khó có đủ quyền để khắc phục những trở ngại liên quan đến vấn đề đó. Vậy, cũng không bất ngờ sự ý nghĩa mà chúng ta thường thấy chủ yếu liên quan đến những người xưng quanh, hay là những hệ thống đào đức dù là tôn giáo hay là những nghiêm tin cá nhân hay những mực đích chính trị.

Trong khi đó, nhưng niềm tin của chúng ta xuất phát từ đâu? Hầu hết những niềm tin của chúng ta là do một quá trình xã hội. Sống trên thế giới này khó có thể tránh việc bị thay não. Vấn đề là sẽ bị mới là biến số. Vậy, sống trong những điều kiện như thế này không bất ngời con người là loại con vật khá là bị kịch và không may. Tôi nói thế mà là một người quá là may mắn rồi. Còn bao nhiều người trên thế giới mà sống trong những hoàn cảnh thật khó và thực sự không có quyền mấy.

Thế giới của chúng ta

Thế giới của chúng ta là một thế giới bất bình đẳng. Là một thế giới giàu mà trong nó có nhiều người nghèo. Là một thế giới tư bản và “nhiễm tăng trưởng,” “nhiễm lợi nhuận.” Những giá trị khác là phụ hay nếu có, chủ yếu có mục đích tăng quyền của bên A để giảm quyền của bên B. Như ISIS, chẳng hạn.

Chúng ta sống trong một thế giới mà những người cầm quyền cứ làm giàu, cứ hạn chế quyền lực của những người ở dưới. Dù thế giới của chúng ta đã bất bình đẳng từ lâu, có nhiều tranh cãi về tình hình thế giới ngay nay.

Ở bên Tây có những lão trí tuệ bảo thế giới đã chẳng bao giờ tốt hơn. Kể cả ở Việt Nam, dù người Việt thấy rất rõ những hạn chế của đất nước mình, không thể tranh cãi đã có những tiến bộ nhất định; chẳng hạn về mức sống, về điều kiện vật chất, về tiêu dùng, v.v.

Vậy, nếu thế, tại sao có nhiều người không chỉ là không hài lòng mà quá là bức xúc vậy? Nếu thế, tại sao nhiều người thấy tình hình thế giới của ngày nay là quá buồn và – quan trọng hơn – không thể nào chấp nhận được? Có phải là vì dân thường không thích cảm giác mà đang sống dưới những chế độ mafia hả?

Vấn đề quan trọng không phải là mực sống của ngày nay là tốt hơn so cới 200 năm trước hay 30 năm trước về mực thu nhập chứ. Vấn đề là điều kiện của chúng ta là chấp nhận được so với những phương án khả thi khác chứ!

Tôi là người Mỹ mà thấy nước Mỹ phản ánh một nước bị một mafia bẩn đô hộ. Nga khác? Trung Quốc khác? Tôi chả nói về Việt Nam. Dù nền dân chủ của Mỹ đã luôn luôn có những hạn chế, chưa bao giờ thấy những thế chế của Mỹ đã bị điều kiện do một mafia như thấy hôm nay. Quá bi quan để thấy từ trước cho đến nay nước nào cũng bị một mafia naò đó đô hộ, vấn chỉ là có hay không có những cơ chế hữu hiệu để hạn chế hay kiểm soát một cách tối thiểu?

E-mail của bạn và những câu hỏi đặt ra

Vừa rồi tôi nhận một email của một người học giả giỏi, một người phụ nữ Bắc Âu. Một người đã nghiên cứu về Việt Nam nhiều năm. Chị bảo mới đi Việt Nam về. Chị bảo rất buồn về tình hình Việt Nam. Chị bảo, “phải nói thật: chả biết nói gì… bất công bằng, tham nhũng, vấn đề con ông cháu cha, đàn áp, ô nhiễm – như là tăng trưởng của Việt Nam đã hoàn toàn out of control. Chị bảo “Anh ơi, tôi rất buồn để thấy Việt Nam ngày nay.”

Còn tôi? Tôi cũng buồn. Ngoài việc tôi đã có mấy công trình nghiên cứu phải hoàn tất, phải giảng dạy mấy lớp học mới và quy mô lớn, phải lo gia đình v.v., tôi đã không viết nhiều như trước chính vì tôi đã buồn – thật buồn – về tình hình chính trị xã hội trên thế giới này, nhất ở hai nước tôi quan tâm nhiều nhất – Mỹ và Việt Nam.

Đã đến mức tôi phải hỏi mình và phải hỏi các bạn: để sống một cách có ý nghĩa trong một thế giới như hôm nay là để sống như thế nào? Dạo này tôi đang cố gắng tìm cách để chống lại tiêu cực. Nếu không thì cuốc sống là vô nghĩa. Đúng không các bạn ơi? Chắc phải tập chung vào những điều mà có thể tác động đã, dần và dần đúng lên….. chắc phải tự hỏi, trong ngày này, trong tuần này, trong tháng này tôi và chúng ta cũng có thể làm gì.

Đúng ko?

Leiden, Ngày 23/4/2018

Share Button

Giữa tầm nhìn và lạc quan

Cách đây đúng một năm tôi đã viết và đăng tại đây một bài tên ‘Thư gửi Việt Nam.’ Viết tại Hà Nội ngay lúc tân TTg Hoa Kỳ Donald Trump đặt chân tới Washington.

Một năm trôi qua mà không viết thêm được bài nào … Cho đến nay.

Đúng một năm sau tôi đã về Việt Nam và đang viết bài này ngay tại Sài Gòn. Với bài nay, tôi xin rũ bỏ mọi nghiệp xấu của năm qua và lại tiếp tục sự nghiệp.

Trong bài “thư gửi Việt Nam” tôi đã báo động về hai điều. Một là nguy cơ toàn thế giới sẽ rơi vào một cuộc khủng hoảng khủng khiếp. Hai là đoán riêng nước Mỹ sẽ rơi vào một cơn khủng hoảng chính trị nghiêm trọng nhất kể từ thời Nội chiến của Mỹ. Ngoài ra tôi có nêu một số nhận xét về ý nghĩa của thời Trump đối với Việt Nam. Vậy, hiện tại và ngay sau Ông Trump đã qua Việt Nam, chúng ta đang thấy gì? Ở đây chỉ nêu những sự khác biệt lớn nhất và để lại những vấn đề cụ thể cho những bài tiếp theo.

Nhìn chung, thế giới của hôm nay, nước Mỹ của hôm nay, và Việt Nam của hôm nay đã khá là khác với thế giới, nước Mỹ, và nước Việt Nam của thời trước đây chỉ một năm. Về thế giới và nhất là về cái gọi là “trật tự thế giới” thì chúng ta thấy mức độ “thiếu chắc chắn” (tức uncertainty) đã tăng vọt. Dù trong “trật tự thế giới” của những năm trước Trump cũng đã tồn tại nhiều nhược điểm lớn, “đóng góp” lớn nhất của Chính quyền Trump cho đến nay chính là đã làm suy yếu một cách nghiêm trọng vai trò lãnh đạo và quyền lực của Mỹ. Vì thế, thế giới của hôm nay phản ánh một khoảng trống quyền lực toàn cầu lớn nhất từ những năm 1930.

Về Mỹ, rõ rằng nước đầy hứa hẹn và vấn đề này đã và đang rơi vào khủng hoảng chính trị và xã hội lớn nhất từ thời nội chiến trong những năm 1860 cách đây gần 150 năm. Ly do chính là những thể chế dân chủ của nước Mỹ, vốn đã đầy khuyết điểm, nay đang bị phá hoại do một kẻ lửa đảo mị dân. Là một kẻ phân biệt chủng tộc, là một trong những nhân vật xấu nhất ở cả nước Mỹ, ông và những người và nhóm ủng hộ đang phá hoại cả xã hội Hoa Kỳ một cách nhanh chóng.

Còn đối với Việt Nam, thì đánh giá sao?

Muốn đánh giá về ông Nguyễn Phú Trọng, thì phải thừa nhận ông ấy và những người “đồng minh” đã giành được lợi thế trên chính trường. Chiến dịch chống tham nhũng đã và còn đang tác động lớn, không chỉ hay chủ yếu đối với tham nhũng mà cả chính trị nữa. Sáng mai, khi tòa tuyên án TXT và ĐLT, thì nó sẽ không nên được xem là sự kết thúc của một quy trình pháp luật mà là một hình thức tiêu biểu trong một quá trình chính trị còn đang tiếp diễn.

Tôi đè nghị trong năm vừa rồi Việt Nam đã bắt đầu một thời mới. Một thời có thể được gọi là thời ‘Hậu Dũng.” Nói “Hậu Dũng” của Việt Nam không có nghĩa là ảnh hưởng của thời Dũng đã hết. Trong 10 năm qua xã hội Việt Nam đã có những thay đổi mang tính cấu trúc, như sự trỗi dậy của giới kinh doanh thân hữu, sự lên ngôi của giới ngân hàng thân hữu, và của tham nhũng quy mô lớn, v.v… Những yếu tố đó vẫn còn và vẫn mạnh. Thời kỳ hiện nay khác ở chỗ đang có những thay đổi nhất định trong giới lãnh đạo và có vẻ một số thay đổi đối với quan hệ giữa Đảng và bộ máy.

Việt Nam sẽ đi đâu trong giai đoạn mới này còn quá sớm để đánh gía. Tầm nhìn cho đất nước trong khi mới sẽ là như sao? Đó chính là việc người dân Việt Nam sẽ quyết định.

Vốn là người cố gắng lạc quan một cách phi ảo tưởng, tôi giữa “định hướng” lạc quan vì 2 lý do chính. Thứ nhất, bất chấp một số diễn biến tiêu cực trong nước, tôi còn thấy người dân Việt Nam quan tâm đến số phận của đất nước mình.

Thứ hai, bất chấp những cơn gió lạnh, điều chắc chắn là đại đa số muốn một Việt Nam mới, một Việt Nam dân chủ hơn, một Việt Nam minh bạch và công bằng, một Việt Nam mà phản ánh những giá trị của Phan Châu Trinh hay thậm chí Obama hơn là những giá trị của Stalin hay Tập Cận Bình.

Song, viết thế này có giá trị không? Làm sao mà lạc quan được trước mặt của quá nhiều vấn đề và trong lúc có vẻ Việt Nam còn thiếu những thể chế mà cần để giành được một tương lai tươi sáng.

Chúng ta phải nhớ rằng ở bất cứ nước nào, những thể chế không rơi từ trên trời xuống mà là do những quá trình hội nhập và quan hệ xã hội tạo ra. Do đó, chờ thay đổi từ trên xuống không hề là một động thái hứa hẹn. Tôi nhìn về Mỹ thì nhiều lúc cũng thấy rất khó để lạc quan. Nhưng biết để có những thay đổi tích cực, để cứu nước, thì chính là người dân Mỹ phải thức dậy. Tương lai của Việt Nam cũng tuỳ thuộc vào chính người dân.

Để giữa một động thái lạc quan phải có tầm nhìn về tương lai. Đúng vậy. Dù nói về thế giới hay Mỹ hai Việt Nam, cái mà chúng ta không thể thiếu hôm nay chính là một tầm nhìn. Nhưng không chỉ có thế. Chúng ta phải dám tự tin và nỗ lực cùng nhau để sống theo nó.

JL, Sài Gòn

Share Button

Năm mới chuyện cũ: Dân trí và vận mệnh quốc gia

Năm mới chuyện cũ: Dân trí và vận mệnh quốc gia

Nguyễn Quang Dy – 01/01/2018

“Dân hai nhăm triệu ai người lớn / Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con” (Trích bài “Bính thìn Xuân Cảm” của Tản Đà (1916) trong tập thơ “Khối Tình Con”).

Với trái tim nhạy cảm của một thi sỹ lớn nặng tình với đất nước, trong bài thơ thất ngôn bát cú cố tình viết dang dở (thiếu hai câu kết), cụ Tản Đà đã đau lòng nhận xét về dân trí quốc gia bằng mấy vần thơ cô đọng như lời sấm truyền. Và với bộ óc nhạy cảm của một nhân sĩ lớn có tầm nhìn xa, cụ Phan Chu Trinh đã tâm huyết đề xuất giải pháp chấn hưng quốc gia bằng “khai dân trí” (enlightened wisdom) và “chấn dân khí” (heightened morale). Ngày nay các nhà khoa học gọi sự nhạy cảm đó là “trí tuệ cảm xúc” (emotional intelligence).

Nhiệm vụ bất khả thi

Không phải ngẫu nhiên mà tổng thống Obama đánh giá cao tư tưởng của cụ Phan Chu Trinh như một “triết lý” (philosophy) khi ông đến thăm Việt Nam (23/5/2016). Phải chăng ông Obama muốn nói rằng tư tưởng đó của cụ Phan Chu Trinh vẫn còn nguyên giá trị, và người Việt lúc này vẫn cần “khai dân trí”? Cũng không phải ngẫu nhiên mà tổng thống Trump ca ngợi Hai Bà Trưng khi ông đến thăm Việt Nam (10/11/2017). Phải chăng ông Trump cũng muốn nói rằng người Việt đang cần “chấn dân khí”? Không biết điều đó có phải là dấu hiệu của “Đông Tây hội ngộ” hay không, nhưng chắc chắn nó càng khẳng định những gì các cụ Tản Đà và Phan Chu Trinh nói cách đây gần một thế kỷ đáng để hậu thế suy ngẫm.

Một điều nữa cũng đáng suy ngẫm là vào thời Minh Trị (Meiji era), các nhân sĩ Nhật như ông Fukuzawa Yukichi đã giúp nước Nhật khởi nghiệp quốc gia, trở thành một đế quốc hùng mạnh khi phương Đông còn chìm đắm trong đêm dài lạc hậu. Sau chiến tranh, giới trí thức Nhật một lần nữa lại giúp nước Nhật bại trận chấn hưng, trở thành một cường quốc dân chủ. Người Nhật đã làm được điều đó vì họ trọng dụng trí thức và mở cửa để học hỏi phương Tây. Người Việt không làm được điều đó vì coi thường trí thức và đóng cửa để “bế quan tỏa cảng” với phương Tây, mà họ chỉ coi trọng khổng giáo (nay đã thành hủ nho). Gần đây, Việt Nam phát động “định nghĩa trí thức” thì e rằng đã quá muộn (too little too late).

Việt Nam hiện nay có hàng chục vạn giáo sư tiến sĩ, nhưng chắc chỉ có vài trăm người là trí thức thực sự có tư duy độc lập và sáng tạo. Thói háo danh, thích xu nịnh và trọng bằng cấp (dù bằng giả và đạo văn), làm nhiều người ngộ nhận mình là trí thức. Hệ quả không định trước của chính sách cai trị độc đoán và ngu dân làm cho quan trí ngày càng thấp. Có người gọi đó là “định luật trên dưới cùng ngu”. Dân trí thấp kéo theo mọi cái đều thấp, dẫn đến vô cảm và vô minh, làm cho ý tưởng khai dân trí trở thành “nhiệm vụ bất khả thi”.

Cách đây một thế kỷ, cụ Phan Chu Trinh hô hào “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” như một triết lý để chấn hưng quốc gia. Nhưng đến nay, người Việt vẫn dậm chân tại chỗ ở ngã ba đường, chưa thoát khỏi bãi lầy ý thức hệ đã lỗi thời. Trong khi người Nhật đã khởi nghiệp quốc gia (từ thời Minh Trị) và chấn hưng đất nước (từ sau chiến tranh thế giới hai) thì người Việt vẫn loay hoay “định nghĩa trí thức”. Trong khi người ta hô hào “công nghệ 4.0”, thì các quan cũng như dân vẫn còn đồng bóng, tin vào bói toán và cúng bái, cầu xin người chết thuộc thế giới âm làm thay việc của người sống ở thế giới dương (như “xin cho”).

Khai dân trí thế nào

Khai dân trí được hiểu là mở cửa trí tuệ để đưa dân trí từ chỗ tối ra chỗ sáng, như một cuộc cách mạng về tư tưởng và văn hóa, nhằm giải phóng trí tuệ con người khỏi vô minh và ngộ nhận do theo đuổi một ý thức hệ đã lỗi thời. Ý nghĩa của Khai dân trí tương tự như Enlightenment trong tiếng Anh. Còn Dân khí thường dùng để chỉ sức mạnh tinh thần, không chỉ dựa trên lý trí mà còn bao gồm cả cảm xúc (EQ). Chấn dân khí chính là nhằm khôi phục và tăng cường sức mạnh tinh thần và nhuệ khí của dân tộc. Một khi dân trí thấp kém và dân khí yếu hèn thì giới trí thức phải giúp nhau và giúp người dân khai mở trí tuệ để đổi mới tư duy, góp phần chấn hưng quốc gia và hội nhập cùng với trào lưu chung của nhân loại tiến bộ.

Có nhiều khái niệm liên quan đến người dân như “của dân, do dân, vì dân” (of the people, by the people, for the people) của tổng thống Mỹ Abraham Lincoln (1863), hoặc “tam dân chủ nghĩa” (three principles of people) của ông Tôn Trung Sơn (1924) bao gồm “dân tộc” (nationalism), “dân quyền” (civil rights), “dân sinh” (people’s livelihood)… Sinh thời, cụ Phan Chu Trinh và các nhân sĩ khác đều quan tâm vận dụng những tư tưởng này. Nhưng các cụ không biết rằng một thế kỷ sau, những tư tưởng cấp tiến đó vẫn còn là khẩu hiệu.

Không phải chỉ có giới cầm quyền, mà cả người dân với tư duy truyền thống, cũng tin rằng “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”. Có lẽ vì vậy mà sau khi quốc gia khởi nghiệp bằng bạo lực do “cướp chính quyền” (năm 1945), Việt Nam đã “khai dân trí” bằng hệ thống “bình dân học vụ”, và sau chiến tranh (năm 1954) bằng hệ thống “bổ túc công nông”. Điều đó không sai về công bằng xã hội, nhưng là thảm họa nếu phủ nhận vai trò của trí thức khi người Việt muốn khởi nghiệp hay chấn hưng quốc gia. Nó lý giải tại sao Việt Nam vẫn tụt hậu và chính phủ “kiến tạo” còn gặp khó khăn khi xây dựng một nền kinh tế tri thức. Đó là sự khác biệt cơ bản giữa Việt Nam với Nhật Bản (và các nước khác).

Nhưng làm sao có dân trí cao khi người Việt Nam bắt chước người Trung Quốc đấu tranh giai cấp cực đoan bằng bạo lực (với khẩu hiệu “trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ”). Thời “cách mạng văn hóa”, Mao Trach Đông đã nói thẳng “trí thức không bằng cục phân” và đuổi họ về nông thôn để “cải tạo lao động” (trong đó có cả Tập Cận Bình). Nhiều người vẫn chưa quên những bài học kinh hoàng về “cải cách ruộng đất” và những màn đấu tố đầy bạo lực. Những gì diễn ra ở Trung Quốc thường lặp lại tại Việt Nam, tuy quy mô, mức độ và thời gian có khác nhau, nhưng mô hình và phương thức gần giống nhau (đến tận bây giờ). Việt Nam chống tham nhũng là rất đúng và cần thiết, nhưng vẫn bắt chước Trung Quốc.

Không phải ngẫu nhiên mà chính quyền hành xử cực đoan và thiếu dân chủ. Theo khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu PEW (Mỹ), 79% người Việt trả lời là họ ủng hộ dân chủ “vừa phải”, 29% coi chính quyền là thể chế “rất tốt”, 41% coi là “hơi tốt” và chỉ có 3% coi là “rất xấu”. Nhiều người dân vẫn thích chuyên chính (đối với kẻ khác). Cực đoan và thù hận, vô cảm và vô minh là những căn bệnh nan y mãn tính của người Việt (cả trong nước lẫn ngoài nước). Ai đã khủng bố và giết hại năm nhà báo người Việt tại Mỹ (giai đoạn 1981-1990)? Cái gì đã làm người Việt (cả hai phía) khó hòa giải dân tộc để chấn hưng quốc gia?

Một số người phê phán cách dùng chữ “người Việt” là không đúng (mà theo họ phải gọi là chính quyền cộng sản). Phải chăng họ chỉ muốn áp đặt ý của mình cho người khác, và quen đổ lỗi cho người khác, còn mình thì vô can. Chẳng có ai thực sự vô can hay “ngoại phạm” vì người ta hay nói “dân nào thì chính phủ ấy” và “quan tham vì dân gian”. Chính quyền tham nhũng vì người dân hay hối lộ. Có vấn nạn thực phẩm độc hại vì dân gian và tham. Có vấn nạn chạy bằng cấp vì người dân hám danh và thích bằng cấp (do dân trí thấp).

Đánh tráo khái niệm và tụt hậu

Trong bối cảnh Việt Nam, hai chữ “nhân dân” được sử dụng quá nhiều như lạm phát. Từ “ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân, chính quyền nhân dân, đến công an nhân dân, tòa án nhân dân, quân đội nhân dân, và chiến tranh nhân dân…Hầu như cái gì cũng gắn với “nhân dân” như khẩu hiệu dân vận. Người Việt thích vay mượn khái niệm “của dân, do dân, vì dân” của người Mỹ và mặc nhiên coi đó là của mình. Thực ra của ai không quan trọng, nhưng họ có thực sự tin vào điều đó không và lời nói có đi đôi với việc làm không. Gần đây, bộ trưởng Chủ nhiệm văn phòng chính phủ Mai Tiến Dũng có nói một câu làm bộc lộ bản chất, “Nếu ta sai, ta sẽ xin lỗi dân. Nếu dân sai, dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Trong khi đó, chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh chia sẻ một kinh nghiệm thu thuế thật ấn tượng, “Thu thuế phải như vặt lông vịt, vặt sao cho sạch nhưng đừng quá vội để vịt nó kêu toáng lên”.

Tại Việt Nam có rất nhiều khẩu hiệu dân túy như “thực hiện quyền làm chủ của nhân dân” với “dân chủ cơ sở”, theo nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trên tinh thần “dân chủ tập trung” trong nền “kinh tế thị trường định hướng XHCN”, nhằm thực hiện các mục tiêu cơ bản “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nhưng các ý tưởng dân chủ đã bị đánh tráo không còn như ban đầu, giống một đoàn tàu bị bắt cóc (hijacked) và người cầm lái bẻ ghi đoàn tàu chạy theo hướng khác. Người ta chỉ giữ lại cái vỏ và những khẩu hiệu mỵ dân để che đậy bản chất mới. Đó chính là “diễn biến” và “suy thoái”.

Trong Hiến pháp 1946, lời nói đầu đã khẳng định ba nguyên tắc cơ bản là: (1) Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo; (2) Đảm bảo các quyền tự do dân chủ; (3) Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Đó là một hiến pháp tiến bộ, được lòng dân. Trong thời kỳ hậu chiến (1975-1988), tại Việt Nam vẫn tồn tại ba đảng là Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội, và Đảng Dân chủ. Nhưng từ năm 1988, Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam đã buộc phải “tự giải thể”, chỉ còn một đảng duy nhất lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Hiến pháp mới, đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo toàn diện đất nước. Đó là một bước tụt hậu về dân chủ.

Cụ Hồ đã từng định nghĩa dân chủ một cách dễ hiểu: “Dân chủ là để làm sao cho dân được mở miệng ra. Đừng để dân sợ không dám mở miệng, nhưng còn nguy hại hơn là khi người dân không thiết mở miệng nữa” Nhưng thời thế thay đổi, khi dân chủ và tự do báo chí ngày càng bị thu hẹp. Theo xếp hạng của tạp chí Economist (2012) về chỉ số dân chủ, Việt Nam đứng thứ 144 trên tổng số 167 quốc gia được xếp hạng và nằm trong nhóm các nước độc tài thiếu dân chủ, được bộ ngoại giao Mỹ xếp vào nhóm nước “chưa có dân chủ, hạn chế tự do báo chí, tôn giáo. Nhưng để lý giải sự suy thoái và tụt hậu hiện nay, không nên chỉ đổ lỗi cho những người cầm lái đoàn tàu, mà còn phải xem lại dân trí của hành khách đi trên tàu.

Năm ngoái, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã mượn câu đó của cụ Hồ để nói về tự do ngôn luận, tự do báo chí của người dân trong luật báo chí sửa đổi (GDVN, 18/2/2016). Trong bối cảnh đó, ông Hùng nhấn mạnh: “Ta mà hiểu rằng quản lý là siết lò so lại không cho làm là không được đâu, là vi phạm Hiến pháp”. Theo “quy trình”, Luật Báo chí điều chỉnh các loại hình báo chí và không cho tư nhân hóa báo chí, còn quản lý thông tin trên mạng được điều chỉnh theo Nghị định 72. Ông Hùng lý giải, “Hiến pháp nói về quyền tự do và chỉ hạn chế bằng luật, thế thì bây giờ các đồng chí định hạn chế cái gì, cấm cái gì thì phải đưa vào luật chứ để trong nghị định là không được đâu… Quản lý bằng nghị định cũng được, nhưng nghị định mà đụng đến quyền tự do dân chủ thì không được”. Nhưng sang năm 2017, việc kiểm soát báo chí và mạng xã hội còn bị “siết lò so” mạnh hơn, như một bước thụt lùi.

Thực trạng về dân trí

Dân trí về quản trị đất nước chưa trưởng thành (immature). Tuy kinh tế Việt Nam tiếp tục tụt hậu (một số lĩnh vực thua cả Campuchia), nhưng đất nước vẫn đi theo một mô hình “không giống ai” (mà chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan gọi là “không chịu phát triển”). Tuy chiến tranh lạnh đã chấm dứt gần ba thập kỷ, nhưng Việt Nam vẫn hồn nhiên cử đặc vụ sang Berlin bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, vi phạm luật quốc tế và chủ quyền quốc gia Đức, gây khủng hoảng ngoại giao Đức-Việt, làm chính phủ Đức nổi giận, đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam (và có thể phủ quyết EVFTA). Trong khi nhà nước hô hào về “chủ quyền quốc gia” và “an ninh quốc phòng”, thì người Trung Quốc được thuê dài hạn rừng đầu nguồn và chiếm các vị trí hiểm yếu làm dự án. Gần đây, chính phủ do túng tiền đã quyết định bán các doanh nghiệp hàng đầu (Vinamilk và Sabeco) cho nước ngoài kiểm soát. Phải chăng đó là biểu hiện của dân trí thấp như “khôn nhà dại chợ” và “tham bát bỏ mâm” (nên lợi bất cập hại?).

Dân trí về hợp tác và hội nhập còn kém. Người ta nói rằng người Việt làm việc gấp 3 lần người Nhật, nhưng khi hợp lực lại thì 3 người Việt mới bằng một người Nhật. Theo tiến sĩ Lê Thẩm Dương, người Nhật biết cách quản lý thời gian và làm việc nhóm hiệu quả, còn người Việt thì không. Giám đốc VJCC tại Hà nội nhận xét, “Người Việt Nam làm việc rất thông minh, cần cù, khi được các chuyên gia hướng dẫn thì họ biết phải làm gì và học hỏi rất nhanh. Thực tế là các bạn làm việc tốt hơn 3 lần so với người Nhật nhưng chỉ khi các bạn làm một mình. Tuy nhiên, khi các bạn làm việc tập thể thì các bạn làm không tốt bằng người Nhật chúng tôi vì khả năng làm việc nhóm (teamwork) của các bạn không tốt bằng người Nhật, và tôi có thể khẳng định rằng khi làm việc tập thể thì 3 người Việt mới bằng một người Nhật”.

Dân trí về văn hóa ứng xử xuống cấp nghiêm trọng, dẫn đến bạo hành gia đình, bạo lực học đường và bạo lực xã hội (ngay trong các lễ hội văn hóa truyền thống). Trong khi nhiều cô “bảo mẫu” bạo hành với trẻ em mẫu giáo (hết vụ này tới vụ khác), thì Bộ giáo dục và các địa phương vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu để chấm dứt tình trạng đó, mà chỉ rút kinh nghiệm và đổ trách nhiệm cho nhau. Dân trí về lịch sử và ngôn ngữ cũng có vấn đề, khi một số “trí thức” lúc thì đề xuất “bỏ môn lịch sử”, lúc khác lại đề xuất “cải cách chữ viết tiếng Việt”, như một trò đùa vô minh về “cải cách giáo dục”, làm cho dư luận cả nước bức xúc.

Dân trí về bảo vệ sức khỏe của người dân còn lạc hậu, đa số thiếu ý thức “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Họ thường không kiểm tra định kỳ để phát hiện bệnh sớm, vừa do hoàn cảnh vừa do dân trí thấp. Nhiều người mắc bệnh vì thực phẩm độc hại hay ô nhiễm môi trường (do nhân họa) trong khi đó một số “không nhỏ” các quan chức y tế và bác sỹ (thoái hóa) lại tiếp tay cho các công ty dược như VN Pharma nhập thuốc ung thư dổm về bán cho bệnh nhân. Việt Nam đang trở thành tâm điểm của ung thư, mỗi năm có hơn 126.000 ca mắc bệnh ung thư mới, và khoảng 94.000 người tử vong vì ung thư. Xu hướng này ngày càng gia tăng, không những gây tổn thất lớn cho nền kinh tế mà còn làm cho biết bao gia đình điêu đứng.

Dân trí và tham nhũng

Chống tham nhũng “giai đoạn 2.0” quyết liệt hơn với hình tượng “lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy” mà TBT Nguyễn Phú Trọng đã cao hứng mô tả. Sau khi Trịnh Xuân Thanh bị bắt tại Berlin (23/7/2017), Đinh La Thăng cũng bị bắt tại Hà Nội (8/12/2017). Nhưng chống tham nhũng chắc không dừng lại ở “đại án PVN” mà còn tiếp diễn nhằm chiếu tướng (tuy chưa rõ là chiếu tướng ai). Trong khi nhiều người tin rằng đánh ông Đinh La Thăng là để chiếu tướng ông X (cầm đầu “bên thua cuộc”), những một số khác cho rằng đánh “Vũ Nhôm” là để chiếu tướng ông Y (đối thủ số một đang cầm quyền). Đây là trò chơi vương quyền (game of thrones) có nhiều ẩn số. Nhưng việc khám nhà và truy nã “Vũ Nhôm” sau khi thả rông để đương sự thoái vốn và bỏ trốn, là một vở kịch vụng về. Dân trí cao hay thấp khi công tác an ninh, tình báo của quốc gia cũng bị “thương mại hóa” và biến thành bi hài kịch.

Gần đây, nhiều người bức xúc hỏi tại sao người ta lại để những người “vi phạm đặc biệt nghiêm trọng” tiếp tục vào Trung ương và Bộ Chính trị… Ông Trần Quốc Hương (nguyên phó chủ nhiệm Ban Tổ chức TW) hỏi lúc đó “các cơ quan kiểm tra, tổ chức của Đảng có ý kiến gì không trước những vi phạm của Đinh La Thăng?” Luật sư Trần Quốc Thuận nói: “Đó là một ẩn số cần làm rõ”. (Tiền Phong, 18/12/2017). Phải chăng vì vậy mà TBT Nguyễn Phú Trọng phải dự họp chính phủ (28/12/2017) để triển khai chủ trương “nhất thể hóa”. Không biết ông Nguyễn Phú Trọng có ý gì khi nói “Từ bé đến giờ mới được dự họp chính phủ”.

Chiến dịch chống tham nhũng nhắm vào hai nhóm đối tượng chính là một số “thái tử đảng” và quan chức địa phương (để đánh “từ vòng ngoài vào vòng trong”). Sau khi xử lý Vũ Huy Hoàng và Trầm Bê, ngày 8/1/2017 sẽ xét xử Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh. Dường như vòng vây đang gấp rút khép lại để chiếu tướng ông X, nhưng vụ khám xét và truy nã “Vũ Nhôm” ở Đà nẵng (21/12/2017) lại mở ra một hướng khác như để chiếu tướng ông Y. Nhưng dù chiếu tướng ông nào thì đất nước cũng là “bên thua cuộc” và nhân dân vẫn là nạn nhân của “trò chơi vương quyền” đang làm đất nước phân hóa và kiệt quệ, đứng trước những rủi ro tiềm ẩn về kinh tế và những hiểm họa khôn lường về an ninh và chủ quyền quốc gia.

Thay lời kết

Đã gần một thế kỷ trôi qua kể từ khi cụ Phan Chu Trinh kêu gọi “khai dân trí và chấn dân khí”, nhưng Việt Nam vẫn còn loanh quanh tại ngã ba đường, chưa thoát khỏi hệ tư tưởng đã làm đất nước tụt hậu so với Nhật Bản hàng trăm năm. Muốn “khai dân trí”, Việt Nam phải thay đổi hệ quy chiếu đã lỗi thời, và phải đổi mới thể chế toàn diện. Nếu không thực sự đổi mới thể chế thì việc chống tham nhũng cũng giống như trò “hàn soong hàn nồi”. Để thay cho câu kết, xin mượn lời Albert Einstein (nói cách đây gần một thế kỷ), “Chúng ta không thể giải quyết được vấn đề với cùng một cách tư duy mà chúng ta đã dùng để tạo ra chúng” (We can’t solve problems by using the same kind of thinking we used when we created them).

NQD. 01/01/2018

 

Share Button