Đồng tiền mua được gì?

Tôi đang viết bài này ở Hà Nội, không xa nơi tôi đã ở cách đây 24 năm lần đâu tiên sang Việt Nam. Thế giới của hôm nay rất khác so với thế giới của năm 1990 và giữa năm 1990 và hôm nay Việt Nam đã thay đổi nhiều. Nếu lúc đó, Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất ở Châu Á, thì hôm nay Việt Nàm là một nước thu nhập trung bình thấp (lower middle income country). Nếu lúc đó Việt Nam là một nước mới phát triển nền kinh tế thị trường, thì hôm nay Việt Nam đã có một nền kinh tế thị trường trong khuôn khổ thể chế Lenin gần hơn 20 năm rồi.

Không thể phủ nhận về mức sống, Việt Nam đã có nhiều tiến bộ. Mặt khác, không có ai có thể phủ nhận nếu Việt Nam muốn phát triển mạnh hơn, có sự tăng trưởng kinh tế cao hơn và bền vững hơn, phải giải quyết những hạn chế về thể chế.

Trong những tháng qua, tôi đã đề cập đến vấn đề nhân quyền. Xin khẳng định với các bạn trong chính quyền, đó là một vấn đề mà tôi không thể nào bỏ qua. Và dù một số bạn trong chính quyền chưa thấy đủ rõ, vấn đề nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí là lồng ghép với những hạn chế về thể chế, nhất là , những vấn đề như thiếu minh bạch, v.v. Song, hôm nay xin chia sẻ một chút với các bạn một cách ngắn gọn những gì tôi đang nghiên cứu ở Việt Nam.

Từ lâu tôi cũng như nhiều người khác rất lo về sự phát triển của Việt Nam, và có quan tâm đến tình hình của hai ngành cực kỳ quan trọng đối với tương lai của Việt Nam. Một là ngành giáo dục, hai là ngành y tế. Sự quan trọng của hai ngành này rõ ràng xuất phát từ thực tế là muốn phát triển, Việt Nam phải phát  triển con người. Tức là con người phải ở trung tâm của chiến lược phát triển.

Nhà Nước Việt Nam từ lâu đã chấp nhận quan điểm này về nguyên tắc. Đồng thời, ai ở Việt Nam, dù đang ở vị trí nào, đều thấy còn có nhiều thách thức, chính vì những thể chế của đất nước, đặc biệt trong việc cung ứng, chi trả, và quản lý những dịch vụ giáo dục và y tế, chưa cho phép dân Việt Nam tiếp cận đầy đủ những dịch vụ chất lượng khá, có khả năng chi trả được.

Ở nước nào việc quản lý các ngành giáo dục và y tế cũng không hề dễ dàng. Và thách thức lớn nhất của Việt Nam và làm sao có thể cải cách hai ngành này, để nó có thể phục vụ người dân và giúp họ phát triển những năng lực của họ một cách tối đa. Mục đích ở đây, không phải là đề cập đến những vấn đề phức tạp trong hai ngành này một cách đầy đủ, vì dân Việt Nam khá biết những chuyện này. Ý là đề cập một câu hỏi quan trọng như sau:

Việt Nam có một đặc trưng hiện nay là tỷ lệ dân nghèo và (đặc biệt) cận nghèo là còn quá cao, đồng thời quy mô của tầng lớp trung lưu còn quá nhỏ. (Chưa nói gì về những người lái xe Bentley, có mấy căn hộ v.v.) Qua những nghiên cứu khác nhau chúng ta có thể xác định là hiện nay, một vấn đề lớn đối với hai ngành giáo dục và y tế ở Việt Nam, không phải là số tiền được chi trả, mà là sự hiệu quả của số tiền được chi trả đối với những kết quả mong muốn.

Thế thì nghiên cứu tôi đang tiến hành ở Việt Nam hiện nay là gì? Đó là làm sao chúng ta có thể khuyến khích sự phát triển của giai cấp trung lưu ở Việt Nam? Tại sao đặt ra câu hỏi này? Là vì Việt Nam muốn phát triển bền vững thì phải mở rộng số người, số gia đình, số công đồng mà có thể không chỉ là tiếp cận những dịch vụ cơ bản mà là tiếp cận những dịch vụ chất lượng chuẩn, và qua đó đẩy mạnh khả năng của mọi người tham gia một cách hiệu quả trong nền kinh tế thị trường của đất nước và thế giới.”

Nếu trong ngành giáo dục vấn đề là làm sao phát triển một giai cấp lao động có kỹ năng, thì trong ngành y tế thách thức là, làm sao Việt Nam có thể phát triển một hệ thống y tế hiệu quả, mà trong đó những chi phí người dân phải chi trả là vừa phải, không quá đáng. Vâng, trong ngành giáo dục hiện nay có những nỗ lực cải cách (hy vọng sẽ thành công hơn những nỗ lực trước). Và vâng, trong y tế cũng có những nỗ lực để mở rộng bảo hiểm, giảm bớit lạm dụng. Hai việc đó tôi hoàn toàn hoan nghênh.

Nam ngoái, tôi đã tiến hành một công trình nghiên cứu về sự diễn biến của hiện tượng ‘xã hội hóa’ và những đóng góp và hạn chế của nó. Hiện nay, nghiên cứu của tôi đặt ra câu hỏi: ‘Xã hội hóa’ thì có rồi, nhưng bây giờ phải làm gì để giảm bớt những mặt tiêu cực của nó?

Tất nhiên, tôi cũng như những người khác chưa có câu trả lời. Chưa chắc giải pháp chỉ là xây thêm những bệnh viện v.v. Thế thì một cái cần thiết là tìm hiểu và xác định những điều kiện phải có để nâng cao khả năng của người gần thu nhập bình quân và tương đối thấp để họ có thể tiếp cận được những dịch vụ mà họ cần và qua đó phát triển khả năng của họ và để họ tham gia mạnh hơn trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam. Muốn có được điều đó, phải tìm cách mở rộng cơ hội cho những người có thu nhập trung bình trở xuống tối đa hóa những cơ hội để phát triển kỹ năng của họ, được khám chữa bệnh một cách hữu hiệu hơn với một kinh phí hợp lý hơn. Cho phép họ từ từ nâng cao hơn tới cấp trung lưu.

Đối với những vấn đề này, một thực thế phải đối mặt là mức độ phi tập trung hóa ở Việt Nam là rất cao, thậm chí quá cao. Trong khi những năng lực về về điều phối, quản lý thông tin, thúc đẩy minh bạch, bao đảm trách nhiệm giải trình thực sự là chưa đủ mạnh. Vì thế ở trung tâm của nghiên cứu này là những vấn đề về thể chế.

Hiện nay Việt Nam có trên 60 mô hình quản lý khác nhau. Ta phải học nó, phải xác định những thể chế nào có lợi nền phổ biển hóa, và những cái nào cần phải xóa bỏ. Cũng phải học các kinh nghiệm của các nước khác. Sau cùng, phải có sự quyết tâm chính trị; một cái khó ở Việt Nam mà rất cần.

Ở mức độ tới 17 phần trăm GDP, tổng số tiền cả dân lẫn nhà nước Việt Nam chi tra cho giáo dục và y tế là lớn rồi. Vào ngày thầy thuốc, cùng lúc đang có những thảo luận về cải cách ở cả hai ngành y tế và giáo dục, vấn đề hiện nay không phải là số tiền được chi trả, mà là số tiền đó  mua được gì cho dân Việt Nam.

JL

Chống Mỹ là nhầm rồi

Trong những ngày gần đây, đặc biệt là đến ngày 17 tháng 2, có vẻ người ta đã thấy một chiến dịch nào đó có nội dung “chống Mỹ,” nói xấu “người Mỹ,” tuyên bố quan điểm “Mỹ là nước vi phạm nhân quyền hàng đầu trên thể giới” (dù là trích dẫn trực tiếp từ phát ngôn của Công Hòa Iran) v.v.

Chúng ta không thể thay đổi lịch sử, nhưng chúng ta cũng không nên trở thành những tù nhân của lịch sử. Tôi phản đối quyết liệt chiến dịch này không phải vì tôi là người Mỹ mà…vì nó hoàn toàn nhầm mục tiêu và phản ánh một tư duy rất hạn chế và mị dân.

my

Một ảnh nhận được từ một bạn DLV

 Để  hiểu hiện­ tượng “chủ nghĩa chống Mỹ ” kiểu mới, chúng ta nên hỏi tại sao Mỹ, và tại sao lúc này? Sau đó chúng ta có thể đề cập những lý do tại sao chiến dịch này là chưa chuẩn nếu không muốn nói nó còn gây cản trở đối với sự phát triển của Việt Nam. Cuối cùng tôi sẽ chia sẻ một quan điểm riêng của tôi đối với quan hệ Mỹ-Việt hiện nay. Ý lớn của bài là muốn giúp Việt Nam một cách tốt nhất là tập chung vào những vấn đề đất nước phải đối phó. Mỹ không phải là vấn đề chính hay thậm chí là vấn đề đáng kể của Việt Nam.

 Tại sao là Mỹ, và tại sao lại là lúc này?

Về hai câu hỏi này thì rõ ràng còn một yếu tố trong nước và đặc biệt trong bộ máy đang rất khó chịu về hai việc nổi bật: Đó là vấn đề nhân quyền và làn sóng chống Trung Quốc của nhiều người dân Việt Nam.

Về nhân quyền, dù nhà nước Mỹ đã và đang có nhiều vấn đề đối với nhân quyền, việc Mỹ đã kêu gọi Việt Nam có những tiến bộ đối với nhân quyền ở Việt Nam là việc không chịu nổi đối với “những người chống diễn biến hòa bình,” tức là những người “chống tiến bộ trên mọi hình thức” (CTBTMHT).

Về Trung Quốc, vì những lý do khác nhau (có lẽ ưa thích mô hình Trung Quốc và cụ thể hơn của Lê-nin, không thích mô hình của Mỹ, hay là sợ cấm vận Trung Quốc hay là ghét Mỹ, hay là – như tôi, không thích cánh hữu?) thì vào lúc lịch sử này họ giả định, “thù địch của thù địch là bạn” hay là “Bắc Kinh không muốn Mỹ cần thiệp vào Biển Đông và đê dọa ta liên tục nên im cứ im lạng xem sao, và những cách suy nghĩ tương tự.  Hay là, họ thích chủ nghĩa quốc gia với điều kiện mục tiêu là Mỹ?

Quan hệ Việt-Mỹ ngày xưa đã có những hậu quả bi kịch mà chúng ta vẫn phải đối phó. Chúng ta thường nói ở Mỹ về PTSD (Rối loạn stress sau sang chấn). Tôi chưa tìm hiểu về hiện tượng này ở Việt Nam nhưng có vẻ nhiều (không phải là mọi) khi, chúng ta hãy giả định bệnh này chủ yếu là của “bên thua cuộc.” Thực ra, bệnh này có thể có trong rất nhiều hình thức khác nhau và có thể tác động đến mọi bên. Có phải là bệnh này vẫn còn tác động mạnh đến tư duy của những người CTBTMHT và quá đó xã hội Việt Nam hiện nay nói chung? Nếu thế làm sao đề cập vấn đề? Xin lỗi, tôi phải hỏi, có nói quá mạnh không? Hỏi thế có láo quá không. Nếu thế thì cũng “sorry.” Nhưng, tù góc độ của một nhà xã hội học thì hiện tượng chống Mỹ là đáng tò mò. Và xin đừng giả định tôi là người mất tình cảm vì tôi biết nhiều người đã có những kinh nghiệm quá bi kịch và trong đó có nhiều nạn nhân của quân đội Mỹ ngày xưa.

Chiến tranh Mỹ tại Việt Nam là một kinh nghiệm cả xấu và buồn. Thế giới và dân Việt Nam sẽ không quên. Vấn đề là trong một khuôn khổ “tuyệt thắng,” “tuyệt giải phóng,” tự do chưa hoàn tiện, và văn hóa chính trị loa phường rất đẽ cả nước bị nhiễm bệnh CTBTMHT. Như Au Saung Sưu Chi đã nói về nước của Bà ấy: “Còn nhiều người chưa biết rằng tư duy độc lập có thể tồn tại”. Tôi lo Việt Nam cũng vậy.

Tóm lại, những bi kịch của chiến tranh Mỹ tại Việt Nam có lễ vẫn chưa qua, một phần không nhỏ vì, như Trung Quốc và nhất là Bắc Triêu Tiên, đã có vài người có vị trí nhận thấy một “luôn trong tình trạng chiến tranh với Mỹ” có thể có lợi cho việc cai trị, thức đầy ý thức nhầm, lừa bịp v.v.

Để giải tích hiện tượng “chống Mỹ 35 sau,” ngoài những chuyện về quá khứ, cũng có những vấn đề về quan điểm. Tôi hoàn toàn chấp nhận những người không thích mô hình tư bản cụ thể của Mỹ. Thực vậy, có nhiều người, kể cả tôi cũng thấy mô hình kinh tế của Mỹ có cái tốt và cái xấu. Nhưng, vì lợi ích mà Việt Nam đã có quan hệ thương mại với các nước tư bản (trong đó có Nhật, Đài Luân, Hàn Quốc, Singapore….) thì rõ ràng vấn đề không phải chỉ nói về mô hình kinh tế, mà còn có những yếu tố khác. Trong đó rõ rằng có nhân quyền, như mội người đã đề cập.

Ở đây, có vẻ vấn đề cụ thể là việc nhà nước Mỹ ép nhà nước Việt Nam thay đổi hành vi, và không tôn trọng chủ quyền của nhà nước Việt Nam. Như ai biết, vấn đề “chủ quyền và nhân quyền” là một vấn để hết sức tranh cãi. Chủ quyền bao hàm một nhà nước có ủy quyền tối cáo trong một lãnh thổ nhất định. Trong khi nhân quyền có ý nghĩa là không có nhà nước nào vi phạm quyền con ngườ. Tranh cãi là ở chỗ, nếu sự ủy quyền của một nhà nước chưa chắc dựa vào sự ưng thuận và đồng thời có vi phạm nhân quyền trong nước đó thì, thích hay không thích nhân quyền, chủ quyền của nhà nước đó sẽ bị xêm là có vấn đế. Đồng ý hay không những người ủng hộ nhân quyền có quan điểm như thế.  Là quan điêm nhân quyền là một quyền chính đáng không biên giới, là điều kiện thiết yếucủa một trật tự xã hội văn minh và nhân đức.

Và có lẽ bi kịch lớn nhất bắt đầu từ đây. Tôi không có ảo tưởng nào về Mỹ, là một nước cực giàu và đã tác động đến thế giới một cách phức tạp, tốt có, xấu có. Nhưng hỏi ai ở bên Mỹ, Hàn Quốc hay Đài Loan…họ có muốn sống dưới chế độ loa phường không?  Có mấy ai sẽ chấp nhận? Hãy hỏi ý kiến dân Việt Nam xem sao?

Bàn về quan hệ Việt Mỹ

Có lẽ bạn đọc sẽ bất ngờ nếu biết, từ trước đến nay tôi chưa suy ngẫm nhiều về quan hệ Mỹ Việt, chủ yếu vì nó ở ngoài chuyên môn và những sự quan tâm của tôi. Kiến thức của tôi về ngày xưa (tôi sinh năm 1969 tại Mỹ và đã lớn lên ở đó) tôi tự đánh giá là ở mức trung bình mà thôi. Trong gia đình tôi đã không có ai phải sang Việt Nam đánh nhau, chỉ có bố mẹ tôi bị đánh ở các cuộc biểu tình chống chiến tranh.

Về quan điểm kinh tế, là một giáo sư về sự phát triển quốc tế học, tôi không bao giờ khuyến khích nước nào áp dụng những ‘mô hình’ kinh tế mà nhà nước Mỹ đã thúc đẩy ngày xưa một cách ngay thơ. Kinh tế thị trường thì phải có, minh bạch cũng phải có. Quyền sở hữu dù loại nào đi nữa cũng phải rõ ràng. Sự phát triển có rất nhiều công thức, bên cạnh đó cũng không thể phủ nhận một số yếu tố của nền kinh tế Mỹ là nên học. Và Việt Nam cũng có thể có nhiều quyền lợi từ nó (ngoài những nguy cơ), nếu biết kết hợp với Mỹ trên những lĩnh vực kinh tế, thương mại, quốc phòng. Ngoài ra, nếu mô hình TPP phát triển, Việt Nam nên cố gắng tham gia một cách có lợi và tránh những cái tiêu cực. Nhưng không nên lấy cớ “không phù hợp”, nếu nó chỉ có nghĩa là muốn bảo về quyền lợi của một số nhóm, điều đó là trái ngược với quyền lợi quốc gia.

Đối với Trung Quốc, nước đó cũng có những cái để học. Và Việt Nam cũng phải có một quan hệ tốt tối thiểu với Trung Quốc. Song, Việt Nam đã làm được gì về việc Trung Quốc đòi quyền đối với lãnh thổ chính đáng của Việt Nam, hay chỉ xoay quanh chuyện nói xấu nhà nước Mỹ vì nó là mực tiêu quên thuộc, an toàn?

Là người Mỹ, tôi không hề giả định nước mình không có vấn đề, hay nghĩ tất cả những cái của Mỹ là tốt và nên có ở Việt Nam. Việc đó chính dân Việt Nam tự quyết định. Nhưng trong một tình trạng mà thịnh vượng quốc gia đang bị đe dọa, chủ yếu từ những vấn đề nội bộ, thì Mỹ, Trung Quốc hay bất cứ một nước nào khác cũng là nhầm mục tiêu rồi. Tôi chia sẽ những ý tưởng này với một ý định xây dựng mà thôi. Vào dịp ngày 17 tháng 2014, tôi xin thể hiện sự tình thần đoàn kết và hoà bình của tôi tới toàn dân Việt Nam.

JL

Nhân quyền: bóng bẩy và thực chất

Tuần qua, chính trường Việt Nam đã hướng về Geneve, nơi mà những hành động chính trị diễn ra sôi nổi xoay quanh cuộc gặp gỡ Phiên Điều trần Kiểm điểm Định kỳ phổ quát (UPR: Universal Periodic Review) của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc. Đến nay, đã có khá nhiều thảo luận, tranh luận, và trận “ném đá” về UPR, một cụm từ mà trước đây vài tuần đại đa số người quan tâm đến chính trị ở Việt Nam chẳng bao giờ biết đến.

Nếu chúng ta đã biết từ trước các phiên UPR gần như không thể mang lại một kết quả cụ thể nào chính vì những hạn chế của LHQ, thì những sự kiện ở Geneve có ý nghĩa gì? Theo tôi, “tuần UPR”của Việt Nam tại Geneve sẽ được ghi nhận như một sự kiện quan trọng, trong sự phát triển chính trị đương đại của đất nước. Ít nhất có hai lý do.

1. Một cơ hội để nhìn rõ và suy ngẫm về tình hình trong nước

Trong những năm qua, tình hình nhân quyền ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ theo quan điểm chính thức của nhà nước Việt Nam. Tôi rất hoan nghênh lời phát biểu của Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc, khi khẳng định rằng: “Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy tất cả các quyền và tự do cơ bản của con người, coi đó là nguyên tắc cơ bản của các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”. Nhưng, nếu những lời này thực sự phản ánh chính sách của nhà nước Việt Nam thì chúng ta chỉ có thể có hai kết luận: hoặc là có một số vấn đề trong quá trình thực hiện các chính sách đó; hoặc là có sự nhầm lẫn giữa ý tưởng với thực tế.

Tôi khá thông cảm với cách tiếp cận khái niệm về nhân quyền, nó bao gồm những yếu tố cả về chính trị, xã hội, kinh tế, và dân sự. Và đại đa số những người lo ngại về nhân quyền ở Việt Nam không hề phủ nhận thực tế rằng, dù còn quá nhiều bất cập, Việt Nam đã có được nhiều tiến bộ quan trọng trong các vấn đề về kinh tế xã hội có liên quan đến nhân quyền và chất lượng đời sống của nhân dân. Song, các vấn đề về mức sống, dù rất quan trọng, không phải là những vấn đề trung tâm đối với tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Nói cách khác, việc chúng ta nhìn thấy những tiến bộ hứa hẹn trong một số lĩnh vực không có nghĩa là chúng ta nên “tha thứ” hay phủ nhận những vi phạm về nhân quyền từ trước đến nay ở Việt Nam.

Thay vì nói nhiều đến những thành tích tưởng tượng, những luật lệ theo hình thức này, hình thức kia, và những con số thống kê nghe thì hay ho nhưng vô nghĩa, nhà nước nên nỗ lực để làm những gì mà họ nói. Nếu muốn bước vào một tương lai mới, thái độ chân thật là bước đầu.  Số người bị đánh đập, đe dọa, bỏ tù tại Việt Nam đã và đang ở một mức độ kinh tởm.  Mặc dù số người bị bỏ tù theo điều 88 đã giảm, xu hướng con số đó không nói lên điều gì, nhất là khi có nhiều biện pháp áp chế khác, cả chính thức, như những điều 58, 72, 79, lẫn không chính thức, như hiện tượng sử dụng côn đồ và dùng luật rừng.

Những nhận xét trên có lẽ không có gì mới lắm đối với người Việt Nam. Song, qua báo cáo của nhà nước Việt Nam, sự quan tâm của công đồng quốc tế, và nhất mọi sự quan tâm và những nỗ lực của các nhóm xã hội dân sự Việt Nam và quốc tế, cả thế giới đang thấy rõ hơn tình hình về nhân quyền ở Việt Nam. Đó là một kết quả tốt dù chỉ là một sự bắt đầu. Ngay trong tuần sau UPR đã có những người bị đàn áp rồi, làm cho mọi người nghi ngờ  về câu “Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy tất cả các quyền và tự do cơ bản của con người.”

2. Một thành tích to lớn

Dù chưa thấy một thay đổi hứa hẹn trong hành vi và cách cư xử từ phía nhà nước, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích to lớn trong lĩnh vực nhân quyền. Ở đây tôi không nói đến những báo cáo bóng bẩy như:  “bước tiến đáng kể về tư duy nhà nước pháp quyền” hay việc có “997 cơ quan báo chí, in 1.084 ấn phẩm” hay việc số người dùng Internet đang tăng cao hay việc “có khoảng 460 hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp có phạm vi hoạt động toàn quốc, liên tỉnh, thành phố” hay việc đã “cho phép” bà Trần Thị Ngọc Minh sang Mỹ và chia sẻ thông tin về tình trạng của con gái trong Gulag hay Guantanamo của Việt Nam.

Dù tôi không coi nhẹ những nỗ lực của nhiều quan chức mà thực sự muốn có tiến bộ về nhân quyền, song những thành tích to lớn nhất về nhân quyền ở Việt Nam lại xuất phát từ các nỗ lực của nền xã hội dân sự đang phát triển đầy hứa hẹn.

Nếu trước đây tôi chưa sẵn sàng coi những nỗ lực vì nhân quyền ở Việt Nam là một phong trào xã hội thực sự, theo định nghĩa đúng của nó, thì bây giờ tôi có cái nhìn khác. Những nỗ lực vì nhân quyền ở Việt Nam đã và đang phát triển một cách rất ấn tượng, bất chấp những điều kiện khó khăn phải đối mặt mỗi ngày. Như chính ĐCSVN cách đây tám mươi mấy năm đã nhận thấy, yêu nước, muốn công lý thì phải có một tổ chức hữu hiệu. Dù bị đe dọa, bỏ tù liên tục, những nhóm, cá nhân, và mạng lưới đang đấu tranh tích cực vì một Việt Nam pháp quyền và văn minh là những người anh hùng của Việt Nam đương đại. Cả nước Việt Nam nên nhiệt liệt hoan nghênh những nỗ lực dũng cảm của những con người này.

Việc chỉ có thể có những thảo luận sâu và tự do về nhân quyền ở Việt Nam tận Geneve, một nơi rất xa Việt Nam, có nhiều ý nghĩa. Câu “[Nhà nước] Việt Nam sẵn sàng mở cửa cho đối thoại và hợp tác với các nước khác” là ý rất hay. Song, rất nhiều người muốn chính quyền cũng nỗ lực xây dựng một nước pháp quyền và “mở cửa cho đối thoại” với chính người dân Việt Nam hơn là những tuyến bố chung chung. Tiếc rằng đến bây giờ vẫn chưa có một đối thoại nào (ngoài đồn công an và trên mạng) giữa các bên của Việt Nam, gồm “bên trên” (chính quyền), “bên dưới” (xã hội dân sự), và “bên ngoài” (cộng đồng người Việt hải ngoại). Thay vì coi những nỗ lực về nhân quyền từ xã hội dân sự – trong và ngoài bộ máy – một lực lượng cần “chống”, hãy mở đối thoại với họ. Hãy có đủ thâm nhình, dũng cảm, tự tin, và lương tâm để có một bước tiến cần thiết trên đường phát triển của một đất nước Việt Nam thực sự văn minh.

Dù cần thiết, sự có mặt của một phong trào chưa đảm bảo sẽ có tiến bộ nào. Nói mãi qua mạng chưa chắc có tắc động thực tiễn. Những tiến bộ tương lai sẽ chỉ có thể đạt được với những nỗ lực hai chiều. Sự phát triển của xã hội dân sự, cùng với một sự quyết tâm và dũng cảm mới của một số  (không cần nhiều) nhân vật chủ chốt trong bộ máy sẽ giúp vấn đề nhân quyền ở Việt Nam tốt hơn. Tất nhiên sự thay đổi thực sự không thể xãy ra tự động từ trên xuống dưới.

Kết luận

Là người Mỹ hay Trung Quốc hay Hàn Quốc hay Việt Nam, chúng ta đều cần đấu tranh cho một thế giới hòa bình, mà trong đó nhân quyền được tôn trọng một cách toàn diện. Vâng, phải có trật tự. Nhưng, trật tự xã hội phải bảo đảm nhân quyền. Vấn đề không phải là xem quyền nào “phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam” vấn đề là làm gì và làm thế nào để nhà nước Việt Nam thực sự (không giả vờ) “tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy tất cả các quyền và tự do cơ bản của con người và có hành vi hợp pháp.

JL